Thông tin

Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

  • https://web.facebook.com/muctu2884/posts/pfbid0cSpXfjaGixrGbDXBtKSTdM3JyioR1EcDUpjFqVDp8TasFFbyFYqxjxRtB3FtBsQdl...
  • Kết quả: https://drive.google.com/drive/u/0/folders/10r5zINC3bQGEV9B7U_0e1d-nVVJBWIdw?fbclid=IwT01FWAPaxhNleHRuA2FlbQIxMABzcnRjBmFwcF9pZAwzNTA2ODU1MzE3MjgAAR6ymeVd4Rr_COsHtgXJll10m7PaehOzBBiDhT9xBljg2LtSj4DEqWoXpEit7A_aem_SdCx_XaTwzrxfNp3nkH6Ng    ...
  • Đề và đáp án:   https://drive.google.com/drive/folders/1lXwQzsr0wACuyS8Ii_l5Dh8J0Sdjv1R-  ...
  • Đề thi và đáp án xem tại đây:  https://drive.google.com/drive/folders/1lXwQzsr0wACuyS8Ii_l5Dh8J0Sdjv1R-...
  • Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh...
  • https://thpt-yenphong3-bacninh.violet.vn/present/hd-on-tn-2025-13808616.html...
  • NGÀY XƯA HOÀNG THỊ Em tan trường về Đường mưa...
  • NGÀY XƯA HOÀNG THỊ Em tan trường về Đường mưa...
  • https://drive.google.com/drive/u/0/folders/1rQOKtz6sXRsKhk5T6R6u_Qf8QGOdAzWd?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAAR3_6RLY1FVOB1KwDBG5aq3OEdtLjGBNW6e1NI_nH9xAVqsvKcmdlqQsm4g_aem_Nno5b3RFZZ1qMJGfdJeCUw...
  • https://drive.google.com/file/d/1QHAY6Fmk0EvI0WmpJ7nAD35vhjSPMtf8/view...
  • https://drive.google.com/file/d/158-9Y0IQzxv6zVpk7E4SqwE1GxdVzsUt/view?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAAR2fuUTNdjxjAbhp36d5khX0KLRgmnVehXPNU5PsMGCXCrPwu96ZqY5q1Yc_aem_AUogHZek0jDs-Uu3MgQe8jkVs2zc1E0n_zC2Vmu8cu9ci2pwCTnGGD-5aFP5Ayxg8aXt9Q5_6ejHFvd0I2nKt3NS...
  • Nguồn:   https://drive.google.com/file/d/0B45ZWfxKIQyyTmE5cHNXWGZYMms/view?resourcekey=0-CWwX6Mcb67397TwfcQ5c0g...
  • https://pi.edu.vn/detail-news/thach-thuc-ky-nay-tap-8-so-3-thang-3-2024-537.html...
  • https://drkhoe.vn/tho-nguyen-thien-ngan/...
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (Mục Tử)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    De_HK1_toan_11_chuyen_DH_Vinh_20192020.jpg Ha_Noi_Ngay_Chia_Xa_Huu_Xuan__Ngoc_Tan.flv Toi_muon_mang_ho_guom_di.flv Cau_ho_ben_ben_Hien_Luong.mp3 9.jpg 8.jpg HSG_Thai_Binh_20182019.jpg FB_IMG_15439018565649870.jpg The_duc_giua_gio_YP2.flv Chon_doi_tuyen_HSG_Bac_Ninh_20182019_thi_Quoc_gia.jpg 20180918_184701.jpg 22016.jpg 112016.jpg 112015.jpg 82017.jpg 62016.jpg 52017.jpg 42018.jpg 22017.jpg 12018.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Trong cõi - Trần Quốc Vượng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Xá (trang riêng)
    Ngày gửi: 22h:00' 03-06-2024
    Dung lượng: 52.6 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    TRONG CÕI
    trần quốc vượng

    KÍNH BIỂU
    TRĂM HOA
    4692
    P.O. BOX

    GARDEN GROVE, CA92642-USA

    спили
    nhà xuất bản TRĂM HOA

    P.O. Box 4692, Garden Grove, CA 92642, USA

    ཉ - 53

    CẢM TẠ
    Chúng tôi chân thành cám ơn các thân hữu, cộng tác
    viên đã giúp đỡ trong tinh thần tự nguyện det
    để tập sách này có
    thể ra đời.

    Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ tất cả những người
    đã khích lệ, ủng hộ công việc làm của chúng tôi.

    Những điều trên, càng làm chúng tôi tin tưởng hơn nữa,

    quyền tự do ngôn luận là một quyền tối thượng, không những
    của tác giả Trần Quốc Vượng mà còn của tất cả mọi người.
    nxb Trăm Hoa

    TRONG CÕI

    1) Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng
    2) Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ

    3) Từ huyền tích đến lịch sử
    4) Tây Sơn Quang Trung
    và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII

    .9

    335
    30

    ·





    5) Đô thị cổ Việt Nam



    51

    65
    76

    6) Vị thế địa - lịch sử

    và bản sắc địa - văn hóa của Hội An

    .103

    7) Một các nhìn văn hóa học
    về Văn Miếu - Quốc Tử Giám

    .115

    8) Hội hè dân gian

    .119

    9) Căn bản triết lý

    người anh hùng Phù Đổng và Hội Gióng

    .126

    10) Triết lý trầu cau

    .139

    11) Triết lý bánh chưng bánh dầy

    .143

    12) Một thời đã qua, một thời đang tới...
    13) Dân gian và bác học.

    .148

    .159

    14) Việt Nam: 100 năm giao thoa

    văn hóa Đông-Tây
    15) Lời truyền miệng dân gian

    về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia

    .196

    .

    .233

    16) Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam

    Nhân bản - Dân tộc - Dân chủ - Khoa học
    17) Nỗi ám ảnh của quá khứ
    Lời bạt của nhà xuất bản Trăm Hoa

    .262
    .272

    .283

    trách nhiệm xuất bản:
    nhà xuất bản TRĂM HOA
    sưu tập tài liệu:
    Tường Vũ Anh Thy
    trình bày bia:

    Khánh Trường
    đánh máy:

    Nguyễn Quốc Trung, Phạm Việt Cường
    sửa chữa bản in:
    Đỗ Hữu Tài

    chọn lựa và biên tập:
    Hoàng Sử Mai

    9

    bài số 1

    VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN
    VỀ TRỐNG ĐỒNG

    Quanh câu chuyện “Hùng Vương dựng nước”

    được viết

    thành văn bản với Việt Điện U Linh, Đại Việt Sử Lược và nhất là

    với Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư... đã lắng
    đọng, ngưng kết lại nhiều mẩu thần thoại có trước và nhiều huyền
    thoại, truyền thuyết có sau thời dựng nước. Dưới sự chỉ đạo của
    tư tưởng lịch sử - nho giáo, tất cả yếu tố đó đã được cấu trúc lại
    thành một hệ thống, mới thoạt nhìn thì cũng có một dáng vẻ duy
    lý, hoàn chỉnh nào đó, nhưng nếu đi sâu phân tích từng chủ đề,
    từng mô típ... ta thấy khá rõ ràng rằng đấy chỉ là một khối liên
    kết nhân tạo, muộn màng, rối rắm và mâu thuẫn...

    Trên nền tảng tư tưởng mác-xít, các nhà khảo cổ học đang đi
    tiên phong trên con đường cấu trúc hóa lại quá khứ. Và cùng với
    họ, các nhà thần thoại học và dân tộc học đang cố gắng tiến lên
    trong quá trình hệ thống hóa lại thần thoại Việt Nam về cội

    nguồn dân tộc. Công việc đang làm, còn nhiều chập chững vụng
    về và vấp váp nữa, cố nhiên, song đang tỏ rõ nhiều triển vọng tươi

    sáng. Bám chắc lấy TRỐNG ĐỒNG và các hiện vật khảo cổ khác
    mà ngắm nhìn, suy đi nghĩ lại mãi thì sẽ có ngày phá bỏ được lịch

    sử nhận thức cũ, xây dựng được một lịch sử nhận thức mới tiếp
    cận hơn với lịch sử thực tại thời dựng nước.

    Cứu thoát khỏi sự mất mát vĩnh viễn với thời gian một mẩu
    câu ca “Ông Đổng mà đúc trống đồng..." câu "Trống rồng canh đã
    điểm ba..." trong điệu múa hát “Trống rồng”; dò tìm và phục
    nguyên trò “Múa rồng” liên quan đến tục thờ Lạc Long Quân
    Bắc Ninh cũ, liên hệ với trò chơi “rồng Ân” của

    được thành văn bản bài mo Mường “Đãn khâu” (trống đồng);

    TRONG CÕI

    10

    tiến lên nghiên cứu nghề luyện đồng, luyện sắt cả về phương diện
    khảo cổ học và dân tộc học; rồi thu nhập thêm tài liệu và nghĩ lại
    để vạch ra quá trình sinh thành và hoàn thành chuyện Phù Đổng
    Thiên Vương, người anh hùng làng Gióng. Phải chăng qua bao
    công phu vất vả lao động khoa học như thế, ít nhất ta cũng rút ra
    được một điểm này: Câu chuyện người anh hùng làng Gióng - mà

    diện mạo cuối cùng chứa chan tình yêu nước, tinh thần giữ nước
    và tinh thần toàn dân đánh giặc bảo vệ làng xóm quê hương - vốn

    xuất phát từ lõi cốt một thần thoại ở một vùng luyện kim, của

    những người thợ rào? Ông Đổng khổng lồ, để lại dấu chân khổng
    lồ, là hình tượng NÚI. Mọi từ lòng núi ra kim loại mà đúc trống,

    rèn roi, ngựa. Tiếng búa đe là tiếng vang của SẤM SÉT. Tiếng

    trống là biểu tượng của tiếng sấm. Trống sấm. “Đánh trống qua
    cửa nhà sấm...” những điển cố văn học ấy chỉ là những mẩu thần
    thoại bị cắt vụn và phai nhòa.

    Ngựa hí vang, hơi thở thiêu đốt một làng (làng CHÁY) là

    biểu tượng của LỬA.

    Và đối lập — mà cũng có hòa hợp — với NÚI-SẤM-LỬA,
    -

    là SÔNG-NƯỚC-MƯA. Ông Đổng con “uống một hớp nước

    cạn đà khúc sông” phải đâu chỉ là một ngoa dụ văn chương! Đó
    là triết lý lưỡng phân và lưỡng hợp NÚI-NƯỚC.
    Chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, đã trải qua một quá trình

    “lịch sử hóa” và “thời sự hóa” và được gán cho một ý nghĩa chống

    lụt cao đẹp, xuất phát là - và vốn là - dị bản của một huyền thoại

    phổ quát về HỒNG THỦY - TRẬN LŨ LỤT KHỞI

    NGUYÊN, bên trong chứa đựng ý niệm về thể lưỡng phân và

    lưỡng hợp (1) giữa NÚI-NƯỚC, THẦN NÚI-THẦN NƯỚC,

    HẠN HÁN-MƯA DÔNG. Đâu phải ngẫu nhiên thần Tản Viên
    - Sơn Tinh - được gắn cho hình tượng cưỡi chim diều hâu và Thủy
    Tinh được gắn cho hình tượng rắn nước. Chim -đặc biệt loài chim
    ăn thịt, vồ mồi- diều hâu, quạ (Kinh), kláng hay tráng (Mường),
    klang (Dao, Ba-na, Mnông...), kalang (Chàm), khlèng (Khơ-me),
    kling-klang (Chu-ra), kelang (Sê-măng), kling (Kha-xi)... hay
    hươu... là biểu tượng của mặt trời, núi, hạn hán. Rắn nước, hay

    rùa vàng, hay cua... là biểu hiện ý niệm lưỡng phấn-lưỡng hợp:
    Sơn Tinh, theo chuyện kể, là bạn Thủy Tinh, vốn cùng một nơi;

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    11

    Tản Viên Sơn thánh đã cứu rắn, vốn là con vua Thủy Tề (Bua
    Khú của người Mường),... sau hai bên lại đánh nhau, là biểu hiện

    rõ rệt cái ý niệm lưỡng hợp đồng thời là lưỡng phân đó.

    Huyền thoại HỒNG THỦYcủa nhiều nhóm dân tộc ở Đông

    Nam Á (Mèo, Dao, Xá, Pọng, Pung, Lào, Xiêm...) vùng quê
    -

    và vùng ảnh hưởng của TRỐNG ĐỒNG và văn hóa Đông Sơn
    — đã được “găm” thêm mô típ trống đồng (hay chiêng đồng,
    -

    chiêng vàng, nồi đồng, trống da...) được coi như con thuyền cứu

    nạn, nơi trú náu của cặp gái trai (anh em hay chị em trai) cũng
    là cặp vợ chồng khởi nguyên, chứa đựng cuộc loạn luân nguyên
    thủy sáng tạo ra loài người.

    Ngày xưa, ở Việt Nam và khắp vùng Đông Nam Á, trung tâm
    văn minh nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, có những nghi
    lễ chống lụt hay cầu mưa.
    Tháng 4 đầu mùa mưa, người ta tổ chức tế thần TRỐNG

    ĐỒNG. Trống đồng gắn với núi: “Đồng cổ sơn thần.”
    Mưa lụt, đánh trống, trống đồng hoặc trống da. Tiếng trống
    là tượng trưng tiếng sấm.

    Không đánh trống, thì về sau người ta bắn súng. Tiếng súng
    thay tiếng trống, cũng là biểu tượng tiếng sấm. Phong tục vùng
    ven sông Đà - người Mường trước Cách mạng tháng Tám - cũng
    được ghi lại trong Hưng Hóa xứ phong cổ lục: nước sông Đà lên
    to, người ta bắn súng vào vách núi đá ven sông, tỏ ý mong nước
    rút.

    Nếu không, thì dùng cung tên bắn sóng (vùng Ngô Việt, thế
    kỷ thứ 10).

    Nếu không, thì làm lễ nhúng gươm xuống nước. Mũi tên là
    tượng trưng tia sáng mặt trời, thanh gươm là tượng trưng tia
    chớp, đều là biểu tượng của LỬA. Mũi tên bắn từ nỏ thần Vua
    Thục:

    Chỉ sông, sông cạn;
    Chỉ núi, núi tan;

    Chỉ.ngàn, ngàn cháy...

    Thanh gươm của thủ lĩnh Hoả Xá (Tây Nguyên), là tượng
    trưng của sấm sét. Gươm thiêng của các vua Cam-pu-chia thuở

    trước, nếu rút ra khỏi vỏ mà không trải qua nghi lễ, người ta tin

    1

    1

    F

    TRONG CÕI

    12

    rằng cả vương quốc sẽ bị Lửa thiêu tàn. Nhúng gươm xuống nước
    là biểu thị sự hòa hợp (lưỡng hợp) NƯỚC-LỬA, một nghi lễ

    phồn thực. Nhưng nhúng gươm xuống nước cũng là biểu thị thế
    lưỡng phân NƯỚC-LỬA: lửa trị nước, nước rút, nghi lễ chống
    lụt.

    Vua Thái Lan xưa dùng gươm vàng dập nước sông: đó là một

    nghi lễ chống lụt. Rùa vàng dâng lẫy nỏ thần cho Vua Thục; làm

    từ NƯỚC, nỏ ấy lại bắn những mũi tên cháy: NƯỚC-LỬA chia
    hai mà hòa một. Từ nước, Lê Lợi được trao thanh gươm thần,
    khắc chữ “Thuận Thiên”, Gươm ấy gây ra tiếng sấm Lam Sơn,
    đám cháy khởi nghĩa thiêu cháy giặc Minh xâm lược. Đánh xong,

    vua lên ngôi, chơi thuyền trên hồ Thủy Quân, gặp Rùa Vàng, vua

    tuốt gươm nhúng xuống nước, rùa đớp lấy mang trả về cho nước.
    Sự tích hồ Hoàn Kiếm - gắn với một vị anh hùng lịch sử - là sự
    diễn tả về mặt thần thoại một nghi lễ cổ xưa chung cho cả vùng

    Đông Nam Á: nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hòa hợp nước-lửa,
    sự phồn thực.
    Trống đồng gắn liền với lễ tiết nông nghiệp. Trên đã nói tiếng
    trống gắn liền với tiếng sấm, là tượng trưng của tiếng sấm.

    Vì vậy trống - trống đồng, trống da - nhiều khi cũng gọi là

    trống sấm. Ở Trung Hoa cổ, thần sấm (Lôi công) được hình dung

    là thần đội mũ trên có đeo những chiếc trống nhỏ. Ở nhiều nơi
    -

    như vùng hải đảo Đông Nam Á, trống đồng còn được gọi là

    “trống mưa”. Trống cầu mưa. Trên mặt trống Ngọc Lũ, bên cạnh

    nhà sàn có một sàn không mãi, chạm khắc cảnh đánh trống đồng
    và rất nhiều nét khắc thẳng chạy nối nhau theo chiều dọc, tượng

    trưng những giọt mưa rơi. Có thể gọi đó là “cảnh cầu mưa”. Vừa
    đánh trống vừa hát khúc lễ ca cầu mưa, như kiểu câu ca ngày sau:
    Lạy trời mưa xuống
    Lấy nước tôi uống
    Lấy ruộng tôi cày,
    Lấy đầy bát cơn,

    Lấy rơm đun bếp,
    Lấy nếp bánh chưng...
    Cũng vì vậy mà trên mặt trống loại 1 hậu kỳ (trống Hữu

    Chung chẳng hạn) và các trống muộn hơn (loại 2, loại 3... theo

    '

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    13

    cách chia loại của Hê-gơ) có gắn tượng cóc. Cóc một và đặc biệt

    cóc võng nhau (lại một ý tưởng phồn thực!). Cóc nghiến răng
    nhiều, trời ắt mưa. Gắn tượng cóc trên trống, tiếng trống biểu
    hiện tiếng cóc gọi mưa. Cóc là một biểu tượng “lưỡng trị” (2) nối

    liền TRỜI và ĐẤT. Rồi mô típ thần loại ấy mờ phai và hòa vào

    chuyện cổ tích “cóc kiện trời”, tan vụn thành điển cố văn chương
    “con cóc là cậu ông Trời”...

    Ở Trung quốc cổ, có quan niệm tiếng trống gọi rồng, con quái

    vật ở nước và giữ bầu nước của trời, chịu trách nhiệm phân phối
    nước mưa cho trời đất. Nếu cóc, rồng, cá là tượng trưng cho ướt
    át mưa đông thì loài hươu - đặc biệt là hươu sao, hươu có bộ lông
    đỏ - là biểu tượng của hạn hán, của lửa thiêu. Đánh trống cầu

    mưa. Đánh trống để cứu hạn. Như trong quan niệm của người
    Đay-ắc (In-đô-nê-xi-a) tiếng trống có một tác dụng ma thuật đối
    với hươu. Nghe tiếng hươu kêu - tiếng kêu của hạn hán, người
    ta đánh trống để đuổi xua niềm rủi.

    Trống đồng gắn với lễ tiết nông nghiệp còn biểu hiện ở việc
    gắn với tục đua thuyền. Vùng phân bố trống đồng - với Bắc Việt
    Nam là trung tâm, phía bắc là Quảng Đông, Quảng Tây, Vân
    Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Giang Tây (Hoa Nam nói
    chung), phía nam là vùng hải đảo cho đến Xa-lây-ơ (3), phía đông
    là những đảo Ke-iê (4), phía Tây là Lào, Cam-pu-chia, Thái

    Lan... cũng là vùng phân bố các hội nước, hội đua thuyền. Dọc
    sông ngòi miền Bắc - sông con, sông cái - đâu chẳng có đền thờ

    RẮN hay RỒNG (cho dù với xu hướng “lịch sử hóa”, rắn rồng

    đã hóa thân thành tướng Hùng Vương, tướng bà Trưng, tướng
    Triệu Việt Vương...). Và bao quanh những đền thờ đó là hội
    nước, hội đua thuyền cầu mưa. Rắn, rồng, thuồng luồng, cá sấu...
    là biểu tượng của NƯỚC, của THẦN NƯỚC và ĐÊM TỐI,
    MƯA DÔNG.

    Thuyền đua cầu mưa được biểu tượng bằng thuyền rồng đầu
    rắn đuôi tôm... Đua thuyền và hát lễ ca cầu mưa, cầu phồn thực.
    Tựa như bài Rao đua thuyền đầu rắn đuôi tôm vào ngày 18 tháng
    6 hằng năm sau đây ở vùng Vân Hải (Quảng Ninh):
    Đầu năm về giữa, nửa năm thường lề.
    Một năm là mười hai tháng

    14

    TRONG CÕI

    Trên thì đóng bàn thờ thần,
    Dưới thờ ngũ vị đại vương.
    Hộ cho làng ta:
    Cho già sức khỏe,

    Cho trẻ bình yên,

    Cho dân an quốcmạnh
    Trên thì đóng đám thờ thần,
    Dưới sông ta có đổi chiếc thuyền rồng ta bẻ mũi chèo bơi...
    Trên tang trống đồng có khắc hình thuyền. Thuyền ở trống

    Ngọc Lũ như Nguyễn Từ Chi đã phát hiện — rõ ràng là hình
    rắn nước nằm ngửa há mồm, thân rắn là thân thuyền. Đó là hình
    -

    tượng sớm nhất của thuyền rồng. Thuyền trên trống Quảng
    Xương thì rõ ràng là thuyền đua. Và thuyền nào cũng có trống

    đồng chở theo. Đua thuyền là một phương thức, một lệ thức cầu
    cúng thần nước, cầu mưa. Ấy là chưa kể tục chơi kéo co, thừng
    kéo là biểu tượng loài rắn; tục kéo co cũng gắn liền với nghi lễ
    cầu được mùa.

    Dưới đây xin trích bốn trong nhiều bài thơ - thơ Đường - có

    nói đến trống đồng, minh họa chuyện trống đồng có liên quan
    mật thiết đến lễ ca và lễ thức cúng thần - đặc biệt là thần NƯỚC
    - nghi lễ cầu mưa:

    菩薩蠻詞
    木綿花映叢祠小

    越禽聲裏 春光曉
    銅鼓與蠻歌

    南人析賽多
    孫光憲

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    15

    Bồ Tát Man Từ

    Mộcmiền hoa ánh tùng từ tiểu

    Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu

    Dong co du Man ca

    Nam nhân kỳ trại đa
    Tôn Quang Hiến

    (Đền Bồ Tát người Man

    Ngôi đền nhỏ trong bụi cây tỏa ánh hoa mộc miên
    Trong tiếng hót chim Việt thấy ánh sáng ban mai mùa xuân

    Trống đồng và bài hát Man

    Người Nam cầu cúng nhiều)

    籐閣中春綺席開
    柘枝蠻鼓殷睛雷
    杜牧
    Đằng các trung xuân ý tịch khai
    Thác chi Man cổ ân tình lôi
    Đỗ Mục

    (Mùa xuân, trải chiếu gấm giữa gác Đằng
    Qua lá cành tiếng trống Man hòa trong tiếng sấm)

    瀆神村
    銅鼓賽神
    神来

    滿庭幡蓋徘徊
    水對江浦過風雷
    楚山如畫煙開
    溫廷筠

    I

    TRONG CÕI

    16

    Độc thần từ

    Đồng cổ trại thần lại
    Mãn đình phan cái bồi hồi
    Thủy đối giang phố quá phong lôi
    Sở sơn như họa yên khai
    Ôn Đình Quân

    (Đền thần bến sông
    Trống đồng cầu cúng thần

    Đầy sân cờ lọng bồi hồi
    Gió sấm lướt trên mặt nước bến sông

    Khói mây mờ núi Sở như tranh vẽ)

    送客南歸詩
    瓦樽留海容
    銅鼓賽江柛
    許渾
    Tống khách nam quy thi

    Ngõamôn lưu hải khách
    Đồng cổ tại giang thần
    Hứa Hồn

    (Thơ tiễn khách trở về nam
    Chén sành lưu khách biển

    Trống đồng cúng thần sông)
    Trống đồng và trống sấm. Trống đồng và cóc. Trống đồng và

    tục đua thuyền. Trống đồng và thần sông. Trống đồng và thuyền

    rồng. Trống đồng và hồng thủy. Cộng thêm vào đó là việc Thủy
    kinh chú, Thái bình ngự lãm, Nguyên Hòa quận huyện chí, Thái

    bình hoàn vũ ký chép biết bao là truyền thuyết về những nơi tìm

    thấy trống đồng Lạc Việt, thuyền đồng vua Việt ở sông, ở ao,
    đầm... Trên trống đồng, trong hình thuyền, có cảnh bắt người,
    đâm giáo vào đầu người. Trên một qua đồng Đông Sơn, có cảnh

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    17

    người cầm đầu lâu giơ lên. Có lẽ những cảnh đó có liên quan đến

    tục “săn đầu lâu”. Sách Nam Châu dị vật chí (dẫn ở Thái bình ngự
    lãm, quyển 786) nói rằng: “Người Ô Hử ở vùng giáp giới Giao
    Châu và Quảng Châu... ra đường rình bắt giết người (không lấy
    của cải), đem về nhà, tụ tập bà con láng giềng, treo người chết
    giữa nhà, ngồi vây bốn chung quanh, đánh trống đồng, hát múa và

    uống rượu...”. Mọi người đều biết, tục “săn đầu lâu” về phương
    diện dân tộc học, là một nghi lễ nông nghiệp, một nghi lễ phồn

    thực (lấy máu người bị giết rỏ xuống đất đai, hay rỏ xuống một

    thủng tro rồi dùng tro ấy rắc xuống đất đai) cầu mong đất đai có
    thêm sinh lực để sinh sôi nảy nở, mùa màng thêm tươi tốt.
    Tất cả những điều đó nói lên mối quan hệ giữa trống đồng và
    lễ tiết nông nghiệp, lễ thức cầu mưa, cầu được mùa, lễ thức phồn
    thực...

    Ta hãy suy nghĩ lại thêm một huyền thoại nữa - huyền thoại

    Âu Cơ Lạc Long Quân - để tìm hiểu thêm về triết lý trống đồng và
    tổng thể thần thoại-xã hội (5) thời dựng nước.
    “Âu Cơ” là nàng Âu, nàng tiên Âu, nàng người Âu ở núi

    rừng. “Lạc Long Quân” là vua rồng Lạc, vua rồng người Lạc, xứ
    Lạc ở vùng sông nước. Âu Cơ lấy Lạc Long Quân: lưỡng hợp Âu
    Lạc. Âu Cơ chia con với Lạc Long Quân, một nửa về ở núi rừng,
    một nửa sống trong vùng sông nước: Lưỡng phân Âu Lạc.
    Huyền thoại này cũng chứa đựng cái ý niệm cơ bản về thể lưỡng

    hợp và lưỡng phân NÚI-NƯỚC. Một dị bản của huyền thoại này
    - được Gian Quy-di-niê (6) ghi lại ở vùng Chiềng Khến (Mường
    Sến, Mẫn Đức, Tân Lạc, Hòa Bình) - nói về nàng HƯƠU SAO



    lấy chàng CÁ CHÉP sinh 100 con rồi cùng chia đôi con, 50 con

    theo mẹ lên núi lập ra dòng vua áo chàm, 50 con theo bố về biển,

    lập ra dòng vua áo vàng. Suy nghĩ thêm về lá cờ của thầy mo
    Mường, một bên vẽ HƯƠU, một bên vẽ CÁ, ta càng thấy đó là

    tim

    ao,
    ,

    cảnh

    biểu hiện của thế lưỡng hợp và lưỡng phân NÚI NƯỚC,
    HƯƠU (hay CHIM)-CÁ (hay RẮN).

    TRONG CÕI

    18

    Ta lại nghĩ thêm về câu chuyện quan hệ HÙNG-THỤC và
    câu chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Theo truyền
    thuyết, Hùng Vương có con rể là tướng phò tá trụ cột - tướng
    tổng chỉ huy đánh Thục - là sơn thánh Tản Viên (nếu không kể
    thêm hai “em họ” Tản Viên là Cao Sơn, Quý Minh, cũng là thần
    núi và cũng được thờ phổ biến ở miền Bắc nước ta, nhiều khi
    dưới dạng “ba mà một"(7) như ở Đền Thượng, Đền Trung, Đền
    Hạ tại Ba Vì), Thần núi Tản cưỡi CHIM (diều hâu). Hùng

    Vương mất ngôi cũng về với NÚI (lên núi Tản “dưỡng nhàn” hay
    là được thờ ở trên núi Nghĩa), chim bạch trĩ, chuyện chim thiêng

    đậu trên cây chiên đàn, tên đất Bạch Hạc... đều gắn liền với nhà
    Hùng. Chưa kể tên Văn Lang - như chúng tôi đã chứng minh cũng là tên chim Kláng. Có thể thấy rõ Hùng Vương (cùng với

    --

    _

    Tản Viên) là biểu tượng của thế lực NÚI-CHIM. Huyền thoại

    cũng nói vua Hùng Vương theo dòng MẸ (Âu Cơ ở NÚI
    RỪNG), là người con trưởng trong số 50 con theo MẸ về NÚI
    (8); Tản Viên ban đầu theo BỐ, sau cũng ngược lên NON theo
    MẸ. Trục trung tâm của đất đai nhà Hùng là NÚI NGHĨA.
    Vua Thục thay thế nhà Hùng, dời đô về đồng bằng, chung

    quanh đầy đầm vực. Xây thành Cổ Loa, Thục Vương bị tinh vua
    cũ - hay là TINH GÀ TRẮNG (Bạch Kê) quấy rối, phá hoại. Gà
    Trắng sống ở HANG NÚI. Núi Thất Diệu (Yên Phụ, Yên

    Phong, Hà Bắc). Nhờ RÙA VÀNG - hay Thanh Giang Sứ - từ
    NƯỚC hiện lên, giúp vua Thục trừ tinh Gà Trắng, thành Cổ Loa
    mới xây xong. Rùa vàng (Kim Quy) còn bỏ móng dâng vua Thục
    để Cao Lỗ làm lẫy nỏ thần. Khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, vua
    ,

    Thục thua, chạy về BIẾN (hay về LỤC ĐẦU GIANG, tùy dị bản,
    nhưng đều là trở về với NƯỚC), Rùa vàng lại hiện lên chỉ cho

    vua rõ đâu là giặc và rước vua về BIỂN làm Nam Hải Vương.

    Toàn là huyền thoại! Hay phần lớn là huyền thoại! Huyền thoại

    này xây dựng vua Thục thành biểu tượng của NƯỚC, người phò
    tá chính là RÙA VÀNG cũng là biểu tượng của thế lực NƯỚC.
    Thế lực chống đối Thục là Gà Trắng, cũng tức là chim (chim cú),

    ở núi, rõ ràng là biểu tượng của thế lực NÚI-CHIM.

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    19

    Quan hệ HÙNG-THỤC được huyền thoại diễn tả thành
    quan hệ NÚI-CHIM (hay gà)-NƯỚC-RÙA Căn bản vẫn là một
    quan niệm lưỡng phân và lưỡng hợp.

    Ý niệm lưỡng phân và lưỡng hợp này còn đeo đuổi tư duy

    Việt cổ nhiều lắm, lâu lắm. Chẳng hạn quan hệ hôn nhân Tiên

    Dung - Chử Đồng Tử cũng là một quan hệ hôn nhân lưỡng phân

    và lưỡng hợp (9). Tiên Dung: nàng có dung nhan tiên nữ, người

    ở NÚI, con vua HÙNG ở núi. Chử Đồng Tử: chàng trẻ họ Chử,

    chàng trẻ ở bến Nãi, sống dưới NƯỚC. Nếu đôi vợ chồng về sau
    cùng bay lên TRỜI thì cũng còn để lại ở đời, trên bãi TỰ
    NHIÊN, một cái chằm: ĐẦM DẠ TRẠCH ((ĐẦM ĐÊM. Đêm
    tối và nước - theo tư duy thần thoại - là có thể đồng nhất).

    Đến như tên đô hộ kiêm đạo sĩ Cao Biền - một nhân vật lịch
    sử 100% - cũng bị tư duy huyền thoại vẽ thành một đạo sĩ cưỡi

    diều giấy đi tìm đất có huyệt đế vương để yểm. Diều (giấy) là
    đồng nhất với chim diều trong biểu tượng thần thoại (người Việt

    và nhiều nhóm dân tộc Đông Nam Á đều gọi “diều giấy” bằng
    tên chim diều, còn người Âu gọi bằng tên “hươu bay” (10). Diều,
    chim bay hay hươu đều là biểu tượng của NÚI TRỜI HẠN
    HÁN đối lập với NƯỚC-RẮN-MƯA. Nếu người ta đua thuyền

    rồng trong mùa mưa, cầu mưa, thì người ta cũng có tục thả diều

    trong mùa khô, cầu gió heo may thổi... Huyệt đế vương là long

    mạch, mạch rồng, mạch nước thiêng. Huyền thoại Cao Biền cưỡi

    diều giấy điyểm long mạch cũng bị quan niệm lưỡng hợp và lưỡng
    phân cổ truyền chi phối.

    Nếu nghiên cứu thêm thì còn có thể kể ra nhiều lắm. Hãy xin

    tạm kết luận:

    Các huyền thoại Việt Nam có liên quan đến thời dựng nước,
    Âu Cơ-Lạc Long Quân, Sơn Tinh-Thủy Tinh, Hùng-Thục... đều

    phản ánh một hệ thống lưỡng hợp và lưỡng phân (11) nằm trong
    cả một tổng thể thần thoại-xã hội hợp thành thế lưỡng phân và
    lưỡng hợp đó.

    Điều vô cùng lý thú là: có thể “đọc” được thế lưỡng phân và
    lưỡng hợp này trên trống đồng (và thạp đồng...). Nói cách khác,
    có thể “đọc” được trên mặt trống và tang trống, những mẫu đề
    thần thoại về thời DỰNG NƯỚC mà về sau, qua một quá trình

    TRONG CỐI

    20
    20

    lâu dài “lịch sử hóa”, “thời sự hóa” và “đạo giáo hóa”, đã được

    ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái.
    Nếu trên mặt thạp đồng Đào Thịnh, ta đã thấy 4 cặp

    TRAI-GÁI giao phối được tạo hình bằng thế tượng tròn thị trên

    mặt trống Ngọc Lũ, xen kẽ giữa các tia của ngôi sao MẶT TRỜI,
    Bùi Huy Hồng đã “đọc” được, nhận ra được hình tượng cặp ÂM
    VẬT-DƯƠNG VẬT được khắc chìm và ít nhiều đã biến điệu và
    cách điệu hóa, nếu không muốn nói là đã được hình học hóa.
    Hình tượng động vật khắc trên trống đồng (và các hiện vật
    Đông Sơn khác) được chia thành hai nhóm:
    - Nhóm ở cạn: chim, hươu...

    -

    -

    Nhóm ở nước: cá, cá sấu, rắn nước, ếch nhái...

    Có lẽ, như Nguyễn Từ Chi dự đoán, còn một con vật mang

    tính chất “Lưỡng trị”. vừa ở cạn, vừa ở nước - đó là con rái cá,

    được chọn khắc trên trống đồng và cả ở trên chiếc giáp đồng
    Miếu Môn (Hà Tây).

    Hơn là một hình tượng hiện thực, ở đây còn là những biểu

    tượng (12), còn ẩn dấu những thần thoại tố (13), những ý niệm
    thần thoại.

    CHIM-HƯƠU là biểu tượng của NÚI-TRỜI-NẮNG HẠN

    THẾ GIỚI BÊN TRÊN. CÁ, RẮN là biểu hiện của ĐẤT
    NƯỚC-MƯA DÔNG-ĐÊM TỐI-THẾ GIỚI BÊN DƯỚI.

    Lạc Long Quân là tên chữ hán và là sự “nhân hóa” - rồi cả

    “phong kiến hóa” — của cá chép, rắn nước, thuồng luồng, cá
    -

    sấu...

    Âu Cơ là tên chữ Hán và là sự “nhân hóa” của chim, hươu...

    Trong những hình tượng động vật được chạm khắc, từng loại
    cũng được biểu hiện theo ý niệm lưỡng phân:
    -

    Chim: có chim bay và chim đậu, xen kẽ. Đó là thế lưỡng

    phân ĐỘNG-TĨNH.
    Hươu: có hươu đực và hươu cái xen kẽ, vòng quanh mặt
    trời (tất cả chim, hươu... đều bay, đi vòng quanh mặt trời ngược
    -

    chiều kim đồng hồ: sự biểu hiện của một vũ trụ luận sơ khai). Đó

    là cái thế lưỡng phân ĐỰC-CÁI.

    Ở trên thạp đồng Việt Khê (Hải Phòng) còn có hình tượng
    hươu có cánh, hươu bay, bụng chửa (ý niệm phồn thực) mang

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    21

    hình dáng người. “Người-chim” và “Người-hươu” đều là biểu
    tượng người ở cạn, trên cao.

    Có thể “đọc” rõ hơn về thế lưỡng phân này ở hình tượng

    “CHIM MỔ CÁ”, rất nhiều trên trống đồng và các đồ đồng Đông

    Sơn khác. Hơn là một hình tượng hiện thực, đấy còn là biểu

    tượng của thế đối lập NÚI-NƯỚC, NẮNG HẠN-MƯA DÔNG.
    Trên mặt trống, nhiều người đã chú trọng từ lâu đến một loại
    mô típ hình học, được mệnh danh là “vòng tròn tiếp tuyến”.
    Nhưng những dải vòng tròn tiếp tuyến này cũng có hai loại: một

    loại “xuôi” và một loại “ngược”, nghĩa là cũng phản ánh một ý
    niệm lưỡng phân.

    Những mô típ trang trí “hình răng cưa” (14) cũng được biểu
    hiện dưới dạng “xuôi” “ngược” lưỡng phân như vậy.

    Khó “đọc” nhất — Nguyễn Từ Chi là người đọc ra đầu tiên
    -

    nhưng khi đọc được rồi thì người ta thấy cũng là hình tượng

    rõ nhất phản ánh ý niệm lưỡng phân và lưỡng hợp: đó là hình
    tượng “CHIM LAO ĐẦU VÀO MIỆNG RẮN”. Hình thuyền
    trên tang trống Ngọc Lũ là hình tượng con RẮN NƯỚC nằm
    ngửa, mồm há hốc. Phía trên là hình tượng 3 con chim cụp cánh
    lao đầu vào miệng rắn.

    '.

    Thế lưỡng phân CHIM - RẮN NƯỚC chi phối hầu hết kho
    tàng thần thoại khởi nguyên của các nhóm dân tộc ở vùng Đông
    Nam Á. Mô típ ấy thấy rất nhiều trong các huyền thoại Việt Nam
    thời dựng nước. Xin nêu hai trong nhiều ví dụ bất kỳ: “Ông Hộ

    dắt dao găm lao đầu vào bụng thuồng luồng để giết thuồng luồng
    ở vùng sông Đà; thuồng luồng nuốt bà mẹ (ở Cam-pu-chia có vô
    vàn truyền thuyết về thuồng luồng, cá sấu nuốt người con gái

    đẹp), “Ông khổng lồ” —- hình tượng NÚI — là con của Mẹ đã
    -

    giết thuồng luồng (dải) để trả thù cho mẹ (truyền thuyết vùng Hồ
    Tây và sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội).

    CHIM (hay GÀ TRẮNG) đều là biểu tượng MẶT TRỜI -

    NÚI. RẮN (hay thuồng luồng, cá sấu...) đều là biểu tượng ĐÊM

    TỐI - NƯỚC. Đấy cũng là ý niệm về thế lưỡng phân: ÁNH
    SÁNG - BÓNG TỐI, NGÀY - ĐÊM... mà người thời cổ nhận
    thức được.

    TRONG CÕI

    22

    Vậy có thể thấy rõ: một trong những ý niệm nền tảng của nền

    văn minh Đông Sơn - một nền văn minh nông nghiệp phát triển

    khá cao, mà trống đồng là hiện vật tiêu biểu - là ý niệm về thế
    lưỡng phân và lưỡng hợp.

    Sơ đồ sau đây tóm tắt những ý kiến đã nêu ở phần trên: (xem
    trang 24 và 25).

    Đó là một cấu trúc thần thoại. Nhưng đó có phải là một cấu

    trúc xã hội không? Nói cách khác, xã hội Việt cổ có được cấu trúc
    trên nền tảng “chia HAI hòa MỘT” không? Rất khó đoán nhận
    trong tình hình tài liệu và hiểu biết hiện nay. Song có thể coi đó
    là một giả thuyết công tác để tiếp tục nghiên cứu thêm. Những tài
    liệu đã công bố về người Bách Việt, Âu Việt, Lạc Việt, Lý, Lão
    (15), về những nhóm dân tộc ở Đông Nam Á có thể khiến ta suy

    đoán rằng xã hội Việt cổ và xã hội cổ truyền của các nhóm dân

    tộc ở Đông Nam Á được cấu trúc trên cơ sở lưỡng hợp và lưỡng

    phân. Có thể vạch ra sơ đồ tổ chức xã hội của các nhóm dân tộc
    đó như trên đây.

    Vậy cũng có thể đề ra giả thuyết :thể lưỡng hợp (và lưỡng

    phân) Âu-Lạc của người Việt cổ đã được cấu trúc từ trước đời An
    Dương Vương Thục Phán, từ trước khi thành lập nước Âu Lạc,

    nghĩa là trước thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Âu là dòng MẸ, Lạc
    là dòng Bố của người Việt cổ cũng như dòng CAU là dòng MẸ,

    dòng DỪA là dòng Bố của người Chàm cổ. Điều đó có thể phản

    ánh một cấu trúc lưỡng hợp về hôn nhân và có thể truy tìm cấu
    trúc ấy cho đến tận tổ chức cơ sở của xã hội (bản, làng...)

    Tiếp tục suy nghĩ về trống đồng. Với ngôi sao-mặt trời ở
    trung tâm mặt trống, mọi cảnh vật, người, chim, hươu... đều xoay
    quanh mặt trời ngược chiều kim đồng hồ... ta dễ dàng đoán nhận
    chủ nhân trống đồng là những người có tín ngưỡng thờ thần mặt

    trời. Đó là một tín ngưỡng phổ biến trong những cư dân nông
    nghiệp, trong những nền văn minh nông nghiệp. Cô-la-ni (16) và
    Qua-rít Uơ-lớt (17) đã ghi nhận từ lâu tín ngưỡng thờ thần mặt

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    23

    trời của chủ nhân trống đồng, chủ nhân văn hóa Đông Sơn. Di

    tích của tục thờ thần mặt trời còn tồn tại khá phổ biến trong
    những nhóm dân tộc ở vùng Đông Dương và Đông Nam Á này.

    Không phải chỉ ở những mô típ trang trí hình mặt trời và hình
    “chìm mặt trời” (18) trong những đồ trang sức của người miền

    núi. Mà còn sống động ở trong những lễ nghi nông nghiệp. Chỉ
    lấy một ví dụ ở người Kinh: tục vật cầu (vật cù) ngày xuân. Những

    trò chơi có vai trò của quả bóng (cầu) như vật cầu, đá cầu, đánh
    phết... đều có liên quan đến tục thờ mặt trời. Quả cầu thường
    được sơn đỏ (biểu tượng mặt trời), người chơi chia làm hai phe
    và bao giờ cũng là phe đông và phe đoài (tây). Quả cầu sơn đỏ

    xoay chuyển từ đông sang tây là tượng sơn đỏ xoay chuyển từ
    đông sang tây là của mặt trời trên bầu trời.

    Với ngôi sao-mặt trời ở giữa mặt trống ta chú ý thêm rằng
    hình tượng trên trống, trên thạp... ưu tiên thuộc về chim hươu và
    những "người chim”, “người hươu”. Tất cả đều là biểu tượng của

    MẶT TRỜI - LÚA - NẮNG HẠN - NÚI - VÙNG CAO. Tổng
    thể thần thoại-xã hội nói về thời dựng nước cũng giành ưu tiên:
    Cho dòng MẸ ÂU: Hùng Vương thuộc dòng mẹ Âu.
    Cho thế lực NÚI: Sơn Tinh thắng Thủy Tinh.

    Điều đó có ý nghĩa xã hội gì?

    Phải chăng chủ nhân trống đồng loại 1 thuộc về tập đoàn
    NÚI, nhóm dân tộc lấy biểu trưng là CHIM - HƯƠU - LỬA -

    NẮNG HẠN thuộc triều đại MẶT TRỜI và vẫn theo dòng MẸ?

    Điêu quan trọng hơn là với sự xuất hiện trống đồng phải chăng xã

    hội Việt cổ đã nhảy vọt từ “tiền sử” sang “thự sử” hay “lịch sử”, từ
    chế độ thị tộc nguyên thủy sang chế độ thủ lĩnh. (19)

    Sự thịnh đạt của việc thờ THẦN MẶT TRỜI trên phạm
    vi toàn thế giới
    gắn liền với việc thần thánh hóa chế độ tù
    -

    trưởng, thủ lĩnh, gắn liền với sự xuất hiện những ông vua đầu

    tiên. Và những vua đầu tiên thì đều là những “vua-phù thủy” (20)

    như G. Phrê-đơ đã chứng minh.

    Xin lưu ý đến một câu của Đại Việt sử lược (quyển 1): “Đời

    Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên) ở bộ Gia

    Ninh có một dị nhân dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự

    xưng là Hùng Vương.”

    TRONG CÕI
    24

    THỂ LƯỠNG HỢP


    LƯỠNG PHÂN

    SÔNG

    NÚI

    NƯỚC

    LỬA

    CHIM, HƯƠU, GÀ

    RẮN, RỒNG, RÙA
    (xăm mình)

    (áo lông chim)

    THỦY TINH

    SƠN TINH

    LẠC

    ÂU

    VĂN HÓA ĐÔNG SƠN

    VĂN MINH NÔNG NGHIỆP
    VÙNG THẤP

    VÙNG CAO

    (nương rẫy)

    ().

    LUYỆN KIM ĐỒNG SẮT
    TRỐNG ĐỒNG

    NGHI LỄ NÔNG NGHIỆP

    (cầu mưa, chống lụt, đua thuyền,
    kéo co, thả diều...)
    THỤC

    HÙNG

    (Cổ Loa)

    (Núi Nghĩa)
    1

    THẦN MẶT TRỜI
    THỦ LĨNH

    TRẦN QUỐC VƯỢNG

    25

    THỂ LƯỠNG HỢP
    và LƯỠNG PHÂN

    VIỆT CỔ
    ÂU

    LẠC



    LÃO

    THÁI

    THỦY BÁI DI (Pa-dí)

    HẠN BÁI DI (Pa-dí)
    THOÁN

    TÂY THOÁN BẠCH MAN ĐÔNG THOÁN Ô MAN
    (Tộc Bạch)

    (Tộc Di)

    (Sát hãn chương)

    (Cáp lại chương)

    (Nguyên Sử)

    (Nguyên Sử)

    (Caqanjang)

    (Qarajang)

    LÔ LÔ

    HẮC LÔ LÔ

    BẠCH LỖ LỖ

    (Lô Lô đất)

    (Lô Lô nước)
    GIA RAI

    HỎA XÁ

    THỦY XÁ

    (Mtao Pui)

    (Mao Ea)
    CHÀM

    DÒNG CAU (Mẹ)

    DÒNG DỪA (B6)

    KHƠ-ME CỔ
    MẶT TRỜI
    (Triều đại)

    MẶT TRĂNG

    (Triều đại)

    TRONG CÕI

    26

    Cho nên có thể cho rằng trống đồng là biểu tượng của một

    quyền uy xã hội. Những ghi chép thời sau nói rõ điểm đó. Chẳng

    hạn Tùy thư-Địa lý chỉ (quyển 31) chép: “Các người Lão đều đúc
    đồng làm trống lớn... người có trống được gọi là đô lão, được

    quần chúng suy phục.” Mỗi trống đồng trị giá hàng trăm, thậm
    chí hàng nghìn trâu bò; ai có hai, ba cái trống đồng thì đã có thể

    “tiếm hiệu xưng vương” (Minh sử, quyển 212). Theo Tấn thư

    Thực hóa chí, quyền uy chính trị, xã hội và sức mạnh kinh tế của
    các “cừ súy” (thủ lĩnh dân tộc) ở Giao Châu được biểu hiện bằng
    số lượng trống đồng, sản vật quý (ngọc trai, sừng tê) và đầy tớ hầu
    hạ. Cũng theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên thì khi tù trưởng

    gióng trống đồng là hiệu lệnh tập trung quần chúng, dân kéo đến

    như mây tụ, sẵn sàng đợi lệnh ra quân. Ở phương Nam, trống

    đồng là vật để thưởng cho người có chiến công lớn. (Tân Đường
    thư - quyển 222 - Nam Man truyện).

    Cũng bởi trống đồng là biểu tượng của quyền uy nên bọn

    phong kiến phương Bắc khi chinh phục phương Nam đều tịch
    thu trống đồng. Mã Viện thời Đông Hán, Gia Cát Lượng thời
    Tam Quốc, Lan Khâm đời Lục Triều... đều làm như thế cả. Mã
    Viện, song song với việc tiêu diệt chế độ Lạc tướng, đầy hơn 300
    thủ lĩnh người Việt sang Linh Lăng (Hồ Nam) đã phá hủy trống

    đồng Lạc Việt để đúc ngựa đồng. Phải chăng đấy là biểu trưng
    của việc phá cấu trúc xã hội cũ của người Việt dựa trên chế độ
    thủ lĩnh thế tập? Việc thủ lĩnh người Việt thời chống Bắc thuộc
    phá tiền đồng của nhà Tấn để đúc lại trống đồng phải chăng là
    biểu tượng của sự đối kháng giữa uy quyền thủ lĩnh Việt với
    quyền ủy của “Thiên triều”? Trên tiến trình lịch sử, nếu cột đồng
    trở thành biểu tượng của chủ nghĩa bành trướng, của kẻ chinh

    phục thì trống đồng đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu
    n...
    Avatar

    https://drive.google.com/file/d/1QHAY6Fmk0EvI0WmpJ7nAD35vhjSPMtf8/view

     
    Gửi ý kiến