Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Trong cõi - Trần Quốc Vượng

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Xá (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:00' 03-06-2024
Dung lượng: 52.6 MB
Số lượt tải: 2
Người gửi: Nguyễn Văn Xá (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:00' 03-06-2024
Dung lượng: 52.6 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
TRONG CÕI
trần quốc vượng
KÍNH BIỂU
TRĂM HOA
4692
P.O. BOX
GARDEN GROVE, CA92642-USA
спили
nhà xuất bản TRĂM HOA
P.O. Box 4692, Garden Grove, CA 92642, USA
ཉ - 53
CẢM TẠ
Chúng tôi chân thành cám ơn các thân hữu, cộng tác
viên đã giúp đỡ trong tinh thần tự nguyện det
để tập sách này có
thể ra đời.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ tất cả những người
đã khích lệ, ủng hộ công việc làm của chúng tôi.
Những điều trên, càng làm chúng tôi tin tưởng hơn nữa,
quyền tự do ngôn luận là một quyền tối thượng, không những
của tác giả Trần Quốc Vượng mà còn của tất cả mọi người.
nxb Trăm Hoa
TRONG CÕI
1) Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng
2) Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ
3) Từ huyền tích đến lịch sử
4) Tây Sơn Quang Trung
và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII
.9
335
30
·
•
•
5) Đô thị cổ Việt Nam
•
51
65
76
6) Vị thế địa - lịch sử
và bản sắc địa - văn hóa của Hội An
.103
7) Một các nhìn văn hóa học
về Văn Miếu - Quốc Tử Giám
.115
8) Hội hè dân gian
.119
9) Căn bản triết lý
người anh hùng Phù Đổng và Hội Gióng
.126
10) Triết lý trầu cau
.139
11) Triết lý bánh chưng bánh dầy
.143
12) Một thời đã qua, một thời đang tới...
13) Dân gian và bác học.
.148
.159
14) Việt Nam: 100 năm giao thoa
văn hóa Đông-Tây
15) Lời truyền miệng dân gian
về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia
.196
.
.233
16) Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam
Nhân bản - Dân tộc - Dân chủ - Khoa học
17) Nỗi ám ảnh của quá khứ
Lời bạt của nhà xuất bản Trăm Hoa
.262
.272
.283
trách nhiệm xuất bản:
nhà xuất bản TRĂM HOA
sưu tập tài liệu:
Tường Vũ Anh Thy
trình bày bia:
Khánh Trường
đánh máy:
Nguyễn Quốc Trung, Phạm Việt Cường
sửa chữa bản in:
Đỗ Hữu Tài
chọn lựa và biên tập:
Hoàng Sử Mai
9
bài số 1
VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN
VỀ TRỐNG ĐỒNG
Quanh câu chuyện “Hùng Vương dựng nước”
được viết
thành văn bản với Việt Điện U Linh, Đại Việt Sử Lược và nhất là
với Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư... đã lắng
đọng, ngưng kết lại nhiều mẩu thần thoại có trước và nhiều huyền
thoại, truyền thuyết có sau thời dựng nước. Dưới sự chỉ đạo của
tư tưởng lịch sử - nho giáo, tất cả yếu tố đó đã được cấu trúc lại
thành một hệ thống, mới thoạt nhìn thì cũng có một dáng vẻ duy
lý, hoàn chỉnh nào đó, nhưng nếu đi sâu phân tích từng chủ đề,
từng mô típ... ta thấy khá rõ ràng rằng đấy chỉ là một khối liên
kết nhân tạo, muộn màng, rối rắm và mâu thuẫn...
Trên nền tảng tư tưởng mác-xít, các nhà khảo cổ học đang đi
tiên phong trên con đường cấu trúc hóa lại quá khứ. Và cùng với
họ, các nhà thần thoại học và dân tộc học đang cố gắng tiến lên
trong quá trình hệ thống hóa lại thần thoại Việt Nam về cội
nguồn dân tộc. Công việc đang làm, còn nhiều chập chững vụng
về và vấp váp nữa, cố nhiên, song đang tỏ rõ nhiều triển vọng tươi
sáng. Bám chắc lấy TRỐNG ĐỒNG và các hiện vật khảo cổ khác
mà ngắm nhìn, suy đi nghĩ lại mãi thì sẽ có ngày phá bỏ được lịch
sử nhận thức cũ, xây dựng được một lịch sử nhận thức mới tiếp
cận hơn với lịch sử thực tại thời dựng nước.
Cứu thoát khỏi sự mất mát vĩnh viễn với thời gian một mẩu
câu ca “Ông Đổng mà đúc trống đồng..." câu "Trống rồng canh đã
điểm ba..." trong điệu múa hát “Trống rồng”; dò tìm và phục
nguyên trò “Múa rồng” liên quan đến tục thờ Lạc Long Quân
Bắc Ninh cũ, liên hệ với trò chơi “rồng Ân” của
được thành văn bản bài mo Mường “Đãn khâu” (trống đồng);
TRONG CÕI
10
tiến lên nghiên cứu nghề luyện đồng, luyện sắt cả về phương diện
khảo cổ học và dân tộc học; rồi thu nhập thêm tài liệu và nghĩ lại
để vạch ra quá trình sinh thành và hoàn thành chuyện Phù Đổng
Thiên Vương, người anh hùng làng Gióng. Phải chăng qua bao
công phu vất vả lao động khoa học như thế, ít nhất ta cũng rút ra
được một điểm này: Câu chuyện người anh hùng làng Gióng - mà
diện mạo cuối cùng chứa chan tình yêu nước, tinh thần giữ nước
và tinh thần toàn dân đánh giặc bảo vệ làng xóm quê hương - vốn
xuất phát từ lõi cốt một thần thoại ở một vùng luyện kim, của
những người thợ rào? Ông Đổng khổng lồ, để lại dấu chân khổng
lồ, là hình tượng NÚI. Mọi từ lòng núi ra kim loại mà đúc trống,
rèn roi, ngựa. Tiếng búa đe là tiếng vang của SẤM SÉT. Tiếng
trống là biểu tượng của tiếng sấm. Trống sấm. “Đánh trống qua
cửa nhà sấm...” những điển cố văn học ấy chỉ là những mẩu thần
thoại bị cắt vụn và phai nhòa.
Ngựa hí vang, hơi thở thiêu đốt một làng (làng CHÁY) là
biểu tượng của LỬA.
Và đối lập — mà cũng có hòa hợp — với NÚI-SẤM-LỬA,
-
là SÔNG-NƯỚC-MƯA. Ông Đổng con “uống một hớp nước
cạn đà khúc sông” phải đâu chỉ là một ngoa dụ văn chương! Đó
là triết lý lưỡng phân và lưỡng hợp NÚI-NƯỚC.
Chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, đã trải qua một quá trình
“lịch sử hóa” và “thời sự hóa” và được gán cho một ý nghĩa chống
lụt cao đẹp, xuất phát là - và vốn là - dị bản của một huyền thoại
phổ quát về HỒNG THỦY - TRẬN LŨ LỤT KHỞI
NGUYÊN, bên trong chứa đựng ý niệm về thể lưỡng phân và
lưỡng hợp (1) giữa NÚI-NƯỚC, THẦN NÚI-THẦN NƯỚC,
HẠN HÁN-MƯA DÔNG. Đâu phải ngẫu nhiên thần Tản Viên
- Sơn Tinh - được gắn cho hình tượng cưỡi chim diều hâu và Thủy
Tinh được gắn cho hình tượng rắn nước. Chim -đặc biệt loài chim
ăn thịt, vồ mồi- diều hâu, quạ (Kinh), kláng hay tráng (Mường),
klang (Dao, Ba-na, Mnông...), kalang (Chàm), khlèng (Khơ-me),
kling-klang (Chu-ra), kelang (Sê-măng), kling (Kha-xi)... hay
hươu... là biểu tượng của mặt trời, núi, hạn hán. Rắn nước, hay
rùa vàng, hay cua... là biểu hiện ý niệm lưỡng phấn-lưỡng hợp:
Sơn Tinh, theo chuyện kể, là bạn Thủy Tinh, vốn cùng một nơi;
TRẦN QUỐC VƯỢNG
11
Tản Viên Sơn thánh đã cứu rắn, vốn là con vua Thủy Tề (Bua
Khú của người Mường),... sau hai bên lại đánh nhau, là biểu hiện
rõ rệt cái ý niệm lưỡng hợp đồng thời là lưỡng phân đó.
Huyền thoại HỒNG THỦYcủa nhiều nhóm dân tộc ở Đông
Nam Á (Mèo, Dao, Xá, Pọng, Pung, Lào, Xiêm...) vùng quê
-
và vùng ảnh hưởng của TRỐNG ĐỒNG và văn hóa Đông Sơn
— đã được “găm” thêm mô típ trống đồng (hay chiêng đồng,
-
chiêng vàng, nồi đồng, trống da...) được coi như con thuyền cứu
nạn, nơi trú náu của cặp gái trai (anh em hay chị em trai) cũng
là cặp vợ chồng khởi nguyên, chứa đựng cuộc loạn luân nguyên
thủy sáng tạo ra loài người.
Ngày xưa, ở Việt Nam và khắp vùng Đông Nam Á, trung tâm
văn minh nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, có những nghi
lễ chống lụt hay cầu mưa.
Tháng 4 đầu mùa mưa, người ta tổ chức tế thần TRỐNG
ĐỒNG. Trống đồng gắn với núi: “Đồng cổ sơn thần.”
Mưa lụt, đánh trống, trống đồng hoặc trống da. Tiếng trống
là tượng trưng tiếng sấm.
Không đánh trống, thì về sau người ta bắn súng. Tiếng súng
thay tiếng trống, cũng là biểu tượng tiếng sấm. Phong tục vùng
ven sông Đà - người Mường trước Cách mạng tháng Tám - cũng
được ghi lại trong Hưng Hóa xứ phong cổ lục: nước sông Đà lên
to, người ta bắn súng vào vách núi đá ven sông, tỏ ý mong nước
rút.
Nếu không, thì dùng cung tên bắn sóng (vùng Ngô Việt, thế
kỷ thứ 10).
Nếu không, thì làm lễ nhúng gươm xuống nước. Mũi tên là
tượng trưng tia sáng mặt trời, thanh gươm là tượng trưng tia
chớp, đều là biểu tượng của LỬA. Mũi tên bắn từ nỏ thần Vua
Thục:
Chỉ sông, sông cạn;
Chỉ núi, núi tan;
Chỉ.ngàn, ngàn cháy...
Thanh gươm của thủ lĩnh Hoả Xá (Tây Nguyên), là tượng
trưng của sấm sét. Gươm thiêng của các vua Cam-pu-chia thuở
trước, nếu rút ra khỏi vỏ mà không trải qua nghi lễ, người ta tin
1
1
F
TRONG CÕI
12
rằng cả vương quốc sẽ bị Lửa thiêu tàn. Nhúng gươm xuống nước
là biểu thị sự hòa hợp (lưỡng hợp) NƯỚC-LỬA, một nghi lễ
phồn thực. Nhưng nhúng gươm xuống nước cũng là biểu thị thế
lưỡng phân NƯỚC-LỬA: lửa trị nước, nước rút, nghi lễ chống
lụt.
Vua Thái Lan xưa dùng gươm vàng dập nước sông: đó là một
nghi lễ chống lụt. Rùa vàng dâng lẫy nỏ thần cho Vua Thục; làm
từ NƯỚC, nỏ ấy lại bắn những mũi tên cháy: NƯỚC-LỬA chia
hai mà hòa một. Từ nước, Lê Lợi được trao thanh gươm thần,
khắc chữ “Thuận Thiên”, Gươm ấy gây ra tiếng sấm Lam Sơn,
đám cháy khởi nghĩa thiêu cháy giặc Minh xâm lược. Đánh xong,
vua lên ngôi, chơi thuyền trên hồ Thủy Quân, gặp Rùa Vàng, vua
tuốt gươm nhúng xuống nước, rùa đớp lấy mang trả về cho nước.
Sự tích hồ Hoàn Kiếm - gắn với một vị anh hùng lịch sử - là sự
diễn tả về mặt thần thoại một nghi lễ cổ xưa chung cho cả vùng
Đông Nam Á: nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hòa hợp nước-lửa,
sự phồn thực.
Trống đồng gắn liền với lễ tiết nông nghiệp. Trên đã nói tiếng
trống gắn liền với tiếng sấm, là tượng trưng của tiếng sấm.
Vì vậy trống - trống đồng, trống da - nhiều khi cũng gọi là
trống sấm. Ở Trung Hoa cổ, thần sấm (Lôi công) được hình dung
là thần đội mũ trên có đeo những chiếc trống nhỏ. Ở nhiều nơi
-
như vùng hải đảo Đông Nam Á, trống đồng còn được gọi là
“trống mưa”. Trống cầu mưa. Trên mặt trống Ngọc Lũ, bên cạnh
nhà sàn có một sàn không mãi, chạm khắc cảnh đánh trống đồng
và rất nhiều nét khắc thẳng chạy nối nhau theo chiều dọc, tượng
trưng những giọt mưa rơi. Có thể gọi đó là “cảnh cầu mưa”. Vừa
đánh trống vừa hát khúc lễ ca cầu mưa, như kiểu câu ca ngày sau:
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơn,
Lấy rơm đun bếp,
Lấy nếp bánh chưng...
Cũng vì vậy mà trên mặt trống loại 1 hậu kỳ (trống Hữu
Chung chẳng hạn) và các trống muộn hơn (loại 2, loại 3... theo
'
TRẦN QUỐC VƯỢNG
13
cách chia loại của Hê-gơ) có gắn tượng cóc. Cóc một và đặc biệt
cóc võng nhau (lại một ý tưởng phồn thực!). Cóc nghiến răng
nhiều, trời ắt mưa. Gắn tượng cóc trên trống, tiếng trống biểu
hiện tiếng cóc gọi mưa. Cóc là một biểu tượng “lưỡng trị” (2) nối
liền TRỜI và ĐẤT. Rồi mô típ thần loại ấy mờ phai và hòa vào
chuyện cổ tích “cóc kiện trời”, tan vụn thành điển cố văn chương
“con cóc là cậu ông Trời”...
Ở Trung quốc cổ, có quan niệm tiếng trống gọi rồng, con quái
vật ở nước và giữ bầu nước của trời, chịu trách nhiệm phân phối
nước mưa cho trời đất. Nếu cóc, rồng, cá là tượng trưng cho ướt
át mưa đông thì loài hươu - đặc biệt là hươu sao, hươu có bộ lông
đỏ - là biểu tượng của hạn hán, của lửa thiêu. Đánh trống cầu
mưa. Đánh trống để cứu hạn. Như trong quan niệm của người
Đay-ắc (In-đô-nê-xi-a) tiếng trống có một tác dụng ma thuật đối
với hươu. Nghe tiếng hươu kêu - tiếng kêu của hạn hán, người
ta đánh trống để đuổi xua niềm rủi.
Trống đồng gắn với lễ tiết nông nghiệp còn biểu hiện ở việc
gắn với tục đua thuyền. Vùng phân bố trống đồng - với Bắc Việt
Nam là trung tâm, phía bắc là Quảng Đông, Quảng Tây, Vân
Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Giang Tây (Hoa Nam nói
chung), phía nam là vùng hải đảo cho đến Xa-lây-ơ (3), phía đông
là những đảo Ke-iê (4), phía Tây là Lào, Cam-pu-chia, Thái
Lan... cũng là vùng phân bố các hội nước, hội đua thuyền. Dọc
sông ngòi miền Bắc - sông con, sông cái - đâu chẳng có đền thờ
RẮN hay RỒNG (cho dù với xu hướng “lịch sử hóa”, rắn rồng
đã hóa thân thành tướng Hùng Vương, tướng bà Trưng, tướng
Triệu Việt Vương...). Và bao quanh những đền thờ đó là hội
nước, hội đua thuyền cầu mưa. Rắn, rồng, thuồng luồng, cá sấu...
là biểu tượng của NƯỚC, của THẦN NƯỚC và ĐÊM TỐI,
MƯA DÔNG.
Thuyền đua cầu mưa được biểu tượng bằng thuyền rồng đầu
rắn đuôi tôm... Đua thuyền và hát lễ ca cầu mưa, cầu phồn thực.
Tựa như bài Rao đua thuyền đầu rắn đuôi tôm vào ngày 18 tháng
6 hằng năm sau đây ở vùng Vân Hải (Quảng Ninh):
Đầu năm về giữa, nửa năm thường lề.
Một năm là mười hai tháng
14
TRONG CÕI
Trên thì đóng bàn thờ thần,
Dưới thờ ngũ vị đại vương.
Hộ cho làng ta:
Cho già sức khỏe,
Cho trẻ bình yên,
Cho dân an quốcmạnh
Trên thì đóng đám thờ thần,
Dưới sông ta có đổi chiếc thuyền rồng ta bẻ mũi chèo bơi...
Trên tang trống đồng có khắc hình thuyền. Thuyền ở trống
Ngọc Lũ như Nguyễn Từ Chi đã phát hiện — rõ ràng là hình
rắn nước nằm ngửa há mồm, thân rắn là thân thuyền. Đó là hình
-
tượng sớm nhất của thuyền rồng. Thuyền trên trống Quảng
Xương thì rõ ràng là thuyền đua. Và thuyền nào cũng có trống
đồng chở theo. Đua thuyền là một phương thức, một lệ thức cầu
cúng thần nước, cầu mưa. Ấy là chưa kể tục chơi kéo co, thừng
kéo là biểu tượng loài rắn; tục kéo co cũng gắn liền với nghi lễ
cầu được mùa.
Dưới đây xin trích bốn trong nhiều bài thơ - thơ Đường - có
nói đến trống đồng, minh họa chuyện trống đồng có liên quan
mật thiết đến lễ ca và lễ thức cúng thần - đặc biệt là thần NƯỚC
- nghi lễ cầu mưa:
菩薩蠻詞
木綿花映叢祠小
越禽聲裏 春光曉
銅鼓與蠻歌
南人析賽多
孫光憲
TRẦN QUỐC VƯỢNG
15
Bồ Tát Man Từ
Mộcmiền hoa ánh tùng từ tiểu
Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu
Dong co du Man ca
Nam nhân kỳ trại đa
Tôn Quang Hiến
(Đền Bồ Tát người Man
Ngôi đền nhỏ trong bụi cây tỏa ánh hoa mộc miên
Trong tiếng hót chim Việt thấy ánh sáng ban mai mùa xuân
Trống đồng và bài hát Man
Người Nam cầu cúng nhiều)
籐閣中春綺席開
柘枝蠻鼓殷睛雷
杜牧
Đằng các trung xuân ý tịch khai
Thác chi Man cổ ân tình lôi
Đỗ Mục
(Mùa xuân, trải chiếu gấm giữa gác Đằng
Qua lá cành tiếng trống Man hòa trong tiếng sấm)
瀆神村
銅鼓賽神
神来
滿庭幡蓋徘徊
水對江浦過風雷
楚山如畫煙開
溫廷筠
I
TRONG CÕI
16
Độc thần từ
Đồng cổ trại thần lại
Mãn đình phan cái bồi hồi
Thủy đối giang phố quá phong lôi
Sở sơn như họa yên khai
Ôn Đình Quân
(Đền thần bến sông
Trống đồng cầu cúng thần
Đầy sân cờ lọng bồi hồi
Gió sấm lướt trên mặt nước bến sông
Khói mây mờ núi Sở như tranh vẽ)
送客南歸詩
瓦樽留海容
銅鼓賽江柛
許渾
Tống khách nam quy thi
Ngõamôn lưu hải khách
Đồng cổ tại giang thần
Hứa Hồn
(Thơ tiễn khách trở về nam
Chén sành lưu khách biển
Trống đồng cúng thần sông)
Trống đồng và trống sấm. Trống đồng và cóc. Trống đồng và
tục đua thuyền. Trống đồng và thần sông. Trống đồng và thuyền
rồng. Trống đồng và hồng thủy. Cộng thêm vào đó là việc Thủy
kinh chú, Thái bình ngự lãm, Nguyên Hòa quận huyện chí, Thái
bình hoàn vũ ký chép biết bao là truyền thuyết về những nơi tìm
thấy trống đồng Lạc Việt, thuyền đồng vua Việt ở sông, ở ao,
đầm... Trên trống đồng, trong hình thuyền, có cảnh bắt người,
đâm giáo vào đầu người. Trên một qua đồng Đông Sơn, có cảnh
TRẦN QUỐC VƯỢNG
17
người cầm đầu lâu giơ lên. Có lẽ những cảnh đó có liên quan đến
tục “săn đầu lâu”. Sách Nam Châu dị vật chí (dẫn ở Thái bình ngự
lãm, quyển 786) nói rằng: “Người Ô Hử ở vùng giáp giới Giao
Châu và Quảng Châu... ra đường rình bắt giết người (không lấy
của cải), đem về nhà, tụ tập bà con láng giềng, treo người chết
giữa nhà, ngồi vây bốn chung quanh, đánh trống đồng, hát múa và
uống rượu...”. Mọi người đều biết, tục “săn đầu lâu” về phương
diện dân tộc học, là một nghi lễ nông nghiệp, một nghi lễ phồn
thực (lấy máu người bị giết rỏ xuống đất đai, hay rỏ xuống một
thủng tro rồi dùng tro ấy rắc xuống đất đai) cầu mong đất đai có
thêm sinh lực để sinh sôi nảy nở, mùa màng thêm tươi tốt.
Tất cả những điều đó nói lên mối quan hệ giữa trống đồng và
lễ tiết nông nghiệp, lễ thức cầu mưa, cầu được mùa, lễ thức phồn
thực...
Ta hãy suy nghĩ lại thêm một huyền thoại nữa - huyền thoại
Âu Cơ Lạc Long Quân - để tìm hiểu thêm về triết lý trống đồng và
tổng thể thần thoại-xã hội (5) thời dựng nước.
“Âu Cơ” là nàng Âu, nàng tiên Âu, nàng người Âu ở núi
rừng. “Lạc Long Quân” là vua rồng Lạc, vua rồng người Lạc, xứ
Lạc ở vùng sông nước. Âu Cơ lấy Lạc Long Quân: lưỡng hợp Âu
Lạc. Âu Cơ chia con với Lạc Long Quân, một nửa về ở núi rừng,
một nửa sống trong vùng sông nước: Lưỡng phân Âu Lạc.
Huyền thoại này cũng chứa đựng cái ý niệm cơ bản về thể lưỡng
hợp và lưỡng phân NÚI-NƯỚC. Một dị bản của huyền thoại này
- được Gian Quy-di-niê (6) ghi lại ở vùng Chiềng Khến (Mường
Sến, Mẫn Đức, Tân Lạc, Hòa Bình) - nói về nàng HƯƠU SAO
và
lấy chàng CÁ CHÉP sinh 100 con rồi cùng chia đôi con, 50 con
theo mẹ lên núi lập ra dòng vua áo chàm, 50 con theo bố về biển,
lập ra dòng vua áo vàng. Suy nghĩ thêm về lá cờ của thầy mo
Mường, một bên vẽ HƯƠU, một bên vẽ CÁ, ta càng thấy đó là
tim
ao,
,
cảnh
biểu hiện của thế lưỡng hợp và lưỡng phân NÚI NƯỚC,
HƯƠU (hay CHIM)-CÁ (hay RẮN).
TRONG CÕI
18
Ta lại nghĩ thêm về câu chuyện quan hệ HÙNG-THỤC và
câu chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Theo truyền
thuyết, Hùng Vương có con rể là tướng phò tá trụ cột - tướng
tổng chỉ huy đánh Thục - là sơn thánh Tản Viên (nếu không kể
thêm hai “em họ” Tản Viên là Cao Sơn, Quý Minh, cũng là thần
núi và cũng được thờ phổ biến ở miền Bắc nước ta, nhiều khi
dưới dạng “ba mà một"(7) như ở Đền Thượng, Đền Trung, Đền
Hạ tại Ba Vì), Thần núi Tản cưỡi CHIM (diều hâu). Hùng
Vương mất ngôi cũng về với NÚI (lên núi Tản “dưỡng nhàn” hay
là được thờ ở trên núi Nghĩa), chim bạch trĩ, chuyện chim thiêng
đậu trên cây chiên đàn, tên đất Bạch Hạc... đều gắn liền với nhà
Hùng. Chưa kể tên Văn Lang - như chúng tôi đã chứng minh cũng là tên chim Kláng. Có thể thấy rõ Hùng Vương (cùng với
--
_
Tản Viên) là biểu tượng của thế lực NÚI-CHIM. Huyền thoại
cũng nói vua Hùng Vương theo dòng MẸ (Âu Cơ ở NÚI
RỪNG), là người con trưởng trong số 50 con theo MẸ về NÚI
(8); Tản Viên ban đầu theo BỐ, sau cũng ngược lên NON theo
MẸ. Trục trung tâm của đất đai nhà Hùng là NÚI NGHĨA.
Vua Thục thay thế nhà Hùng, dời đô về đồng bằng, chung
quanh đầy đầm vực. Xây thành Cổ Loa, Thục Vương bị tinh vua
cũ - hay là TINH GÀ TRẮNG (Bạch Kê) quấy rối, phá hoại. Gà
Trắng sống ở HANG NÚI. Núi Thất Diệu (Yên Phụ, Yên
Phong, Hà Bắc). Nhờ RÙA VÀNG - hay Thanh Giang Sứ - từ
NƯỚC hiện lên, giúp vua Thục trừ tinh Gà Trắng, thành Cổ Loa
mới xây xong. Rùa vàng (Kim Quy) còn bỏ móng dâng vua Thục
để Cao Lỗ làm lẫy nỏ thần. Khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, vua
,
Thục thua, chạy về BIẾN (hay về LỤC ĐẦU GIANG, tùy dị bản,
nhưng đều là trở về với NƯỚC), Rùa vàng lại hiện lên chỉ cho
vua rõ đâu là giặc và rước vua về BIỂN làm Nam Hải Vương.
Toàn là huyền thoại! Hay phần lớn là huyền thoại! Huyền thoại
này xây dựng vua Thục thành biểu tượng của NƯỚC, người phò
tá chính là RÙA VÀNG cũng là biểu tượng của thế lực NƯỚC.
Thế lực chống đối Thục là Gà Trắng, cũng tức là chim (chim cú),
ở núi, rõ ràng là biểu tượng của thế lực NÚI-CHIM.
TRẦN QUỐC VƯỢNG
19
Quan hệ HÙNG-THỤC được huyền thoại diễn tả thành
quan hệ NÚI-CHIM (hay gà)-NƯỚC-RÙA Căn bản vẫn là một
quan niệm lưỡng phân và lưỡng hợp.
Ý niệm lưỡng phân và lưỡng hợp này còn đeo đuổi tư duy
Việt cổ nhiều lắm, lâu lắm. Chẳng hạn quan hệ hôn nhân Tiên
Dung - Chử Đồng Tử cũng là một quan hệ hôn nhân lưỡng phân
và lưỡng hợp (9). Tiên Dung: nàng có dung nhan tiên nữ, người
ở NÚI, con vua HÙNG ở núi. Chử Đồng Tử: chàng trẻ họ Chử,
chàng trẻ ở bến Nãi, sống dưới NƯỚC. Nếu đôi vợ chồng về sau
cùng bay lên TRỜI thì cũng còn để lại ở đời, trên bãi TỰ
NHIÊN, một cái chằm: ĐẦM DẠ TRẠCH ((ĐẦM ĐÊM. Đêm
tối và nước - theo tư duy thần thoại - là có thể đồng nhất).
Đến như tên đô hộ kiêm đạo sĩ Cao Biền - một nhân vật lịch
sử 100% - cũng bị tư duy huyền thoại vẽ thành một đạo sĩ cưỡi
diều giấy đi tìm đất có huyệt đế vương để yểm. Diều (giấy) là
đồng nhất với chim diều trong biểu tượng thần thoại (người Việt
và nhiều nhóm dân tộc Đông Nam Á đều gọi “diều giấy” bằng
tên chim diều, còn người Âu gọi bằng tên “hươu bay” (10). Diều,
chim bay hay hươu đều là biểu tượng của NÚI TRỜI HẠN
HÁN đối lập với NƯỚC-RẮN-MƯA. Nếu người ta đua thuyền
rồng trong mùa mưa, cầu mưa, thì người ta cũng có tục thả diều
trong mùa khô, cầu gió heo may thổi... Huyệt đế vương là long
mạch, mạch rồng, mạch nước thiêng. Huyền thoại Cao Biền cưỡi
diều giấy điyểm long mạch cũng bị quan niệm lưỡng hợp và lưỡng
phân cổ truyền chi phối.
Nếu nghiên cứu thêm thì còn có thể kể ra nhiều lắm. Hãy xin
tạm kết luận:
Các huyền thoại Việt Nam có liên quan đến thời dựng nước,
Âu Cơ-Lạc Long Quân, Sơn Tinh-Thủy Tinh, Hùng-Thục... đều
phản ánh một hệ thống lưỡng hợp và lưỡng phân (11) nằm trong
cả một tổng thể thần thoại-xã hội hợp thành thế lưỡng phân và
lưỡng hợp đó.
Điều vô cùng lý thú là: có thể “đọc” được thế lưỡng phân và
lưỡng hợp này trên trống đồng (và thạp đồng...). Nói cách khác,
có thể “đọc” được trên mặt trống và tang trống, những mẫu đề
thần thoại về thời DỰNG NƯỚC mà về sau, qua một quá trình
TRONG CỐI
20
20
lâu dài “lịch sử hóa”, “thời sự hóa” và “đạo giáo hóa”, đã được
ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái.
Nếu trên mặt thạp đồng Đào Thịnh, ta đã thấy 4 cặp
TRAI-GÁI giao phối được tạo hình bằng thế tượng tròn thị trên
mặt trống Ngọc Lũ, xen kẽ giữa các tia của ngôi sao MẶT TRỜI,
Bùi Huy Hồng đã “đọc” được, nhận ra được hình tượng cặp ÂM
VẬT-DƯƠNG VẬT được khắc chìm và ít nhiều đã biến điệu và
cách điệu hóa, nếu không muốn nói là đã được hình học hóa.
Hình tượng động vật khắc trên trống đồng (và các hiện vật
Đông Sơn khác) được chia thành hai nhóm:
- Nhóm ở cạn: chim, hươu...
-
-
Nhóm ở nước: cá, cá sấu, rắn nước, ếch nhái...
Có lẽ, như Nguyễn Từ Chi dự đoán, còn một con vật mang
tính chất “Lưỡng trị”. vừa ở cạn, vừa ở nước - đó là con rái cá,
được chọn khắc trên trống đồng và cả ở trên chiếc giáp đồng
Miếu Môn (Hà Tây).
Hơn là một hình tượng hiện thực, ở đây còn là những biểu
tượng (12), còn ẩn dấu những thần thoại tố (13), những ý niệm
thần thoại.
CHIM-HƯƠU là biểu tượng của NÚI-TRỜI-NẮNG HẠN
THẾ GIỚI BÊN TRÊN. CÁ, RẮN là biểu hiện của ĐẤT
NƯỚC-MƯA DÔNG-ĐÊM TỐI-THẾ GIỚI BÊN DƯỚI.
Lạc Long Quân là tên chữ hán và là sự “nhân hóa” - rồi cả
“phong kiến hóa” — của cá chép, rắn nước, thuồng luồng, cá
-
sấu...
Âu Cơ là tên chữ Hán và là sự “nhân hóa” của chim, hươu...
Trong những hình tượng động vật được chạm khắc, từng loại
cũng được biểu hiện theo ý niệm lưỡng phân:
-
Chim: có chim bay và chim đậu, xen kẽ. Đó là thế lưỡng
phân ĐỘNG-TĨNH.
Hươu: có hươu đực và hươu cái xen kẽ, vòng quanh mặt
trời (tất cả chim, hươu... đều bay, đi vòng quanh mặt trời ngược
-
chiều kim đồng hồ: sự biểu hiện của một vũ trụ luận sơ khai). Đó
là cái thế lưỡng phân ĐỰC-CÁI.
Ở trên thạp đồng Việt Khê (Hải Phòng) còn có hình tượng
hươu có cánh, hươu bay, bụng chửa (ý niệm phồn thực) mang
TRẦN QUỐC VƯỢNG
21
hình dáng người. “Người-chim” và “Người-hươu” đều là biểu
tượng người ở cạn, trên cao.
Có thể “đọc” rõ hơn về thế lưỡng phân này ở hình tượng
“CHIM MỔ CÁ”, rất nhiều trên trống đồng và các đồ đồng Đông
Sơn khác. Hơn là một hình tượng hiện thực, đấy còn là biểu
tượng của thế đối lập NÚI-NƯỚC, NẮNG HẠN-MƯA DÔNG.
Trên mặt trống, nhiều người đã chú trọng từ lâu đến một loại
mô típ hình học, được mệnh danh là “vòng tròn tiếp tuyến”.
Nhưng những dải vòng tròn tiếp tuyến này cũng có hai loại: một
loại “xuôi” và một loại “ngược”, nghĩa là cũng phản ánh một ý
niệm lưỡng phân.
Những mô típ trang trí “hình răng cưa” (14) cũng được biểu
hiện dưới dạng “xuôi” “ngược” lưỡng phân như vậy.
Khó “đọc” nhất — Nguyễn Từ Chi là người đọc ra đầu tiên
-
nhưng khi đọc được rồi thì người ta thấy cũng là hình tượng
rõ nhất phản ánh ý niệm lưỡng phân và lưỡng hợp: đó là hình
tượng “CHIM LAO ĐẦU VÀO MIỆNG RẮN”. Hình thuyền
trên tang trống Ngọc Lũ là hình tượng con RẮN NƯỚC nằm
ngửa, mồm há hốc. Phía trên là hình tượng 3 con chim cụp cánh
lao đầu vào miệng rắn.
'.
Thế lưỡng phân CHIM - RẮN NƯỚC chi phối hầu hết kho
tàng thần thoại khởi nguyên của các nhóm dân tộc ở vùng Đông
Nam Á. Mô típ ấy thấy rất nhiều trong các huyền thoại Việt Nam
thời dựng nước. Xin nêu hai trong nhiều ví dụ bất kỳ: “Ông Hộ
dắt dao găm lao đầu vào bụng thuồng luồng để giết thuồng luồng
ở vùng sông Đà; thuồng luồng nuốt bà mẹ (ở Cam-pu-chia có vô
vàn truyền thuyết về thuồng luồng, cá sấu nuốt người con gái
đẹp), “Ông khổng lồ” —- hình tượng NÚI — là con của Mẹ đã
-
giết thuồng luồng (dải) để trả thù cho mẹ (truyền thuyết vùng Hồ
Tây và sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội).
CHIM (hay GÀ TRẮNG) đều là biểu tượng MẶT TRỜI -
NÚI. RẮN (hay thuồng luồng, cá sấu...) đều là biểu tượng ĐÊM
TỐI - NƯỚC. Đấy cũng là ý niệm về thế lưỡng phân: ÁNH
SÁNG - BÓNG TỐI, NGÀY - ĐÊM... mà người thời cổ nhận
thức được.
TRONG CÕI
22
Vậy có thể thấy rõ: một trong những ý niệm nền tảng của nền
văn minh Đông Sơn - một nền văn minh nông nghiệp phát triển
khá cao, mà trống đồng là hiện vật tiêu biểu - là ý niệm về thế
lưỡng phân và lưỡng hợp.
Sơ đồ sau đây tóm tắt những ý kiến đã nêu ở phần trên: (xem
trang 24 và 25).
Đó là một cấu trúc thần thoại. Nhưng đó có phải là một cấu
trúc xã hội không? Nói cách khác, xã hội Việt cổ có được cấu trúc
trên nền tảng “chia HAI hòa MỘT” không? Rất khó đoán nhận
trong tình hình tài liệu và hiểu biết hiện nay. Song có thể coi đó
là một giả thuyết công tác để tiếp tục nghiên cứu thêm. Những tài
liệu đã công bố về người Bách Việt, Âu Việt, Lạc Việt, Lý, Lão
(15), về những nhóm dân tộc ở Đông Nam Á có thể khiến ta suy
đoán rằng xã hội Việt cổ và xã hội cổ truyền của các nhóm dân
tộc ở Đông Nam Á được cấu trúc trên cơ sở lưỡng hợp và lưỡng
phân. Có thể vạch ra sơ đồ tổ chức xã hội của các nhóm dân tộc
đó như trên đây.
Vậy cũng có thể đề ra giả thuyết :thể lưỡng hợp (và lưỡng
phân) Âu-Lạc của người Việt cổ đã được cấu trúc từ trước đời An
Dương Vương Thục Phán, từ trước khi thành lập nước Âu Lạc,
nghĩa là trước thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Âu là dòng MẸ, Lạc
là dòng Bố của người Việt cổ cũng như dòng CAU là dòng MẸ,
dòng DỪA là dòng Bố của người Chàm cổ. Điều đó có thể phản
ánh một cấu trúc lưỡng hợp về hôn nhân và có thể truy tìm cấu
trúc ấy cho đến tận tổ chức cơ sở của xã hội (bản, làng...)
Tiếp tục suy nghĩ về trống đồng. Với ngôi sao-mặt trời ở
trung tâm mặt trống, mọi cảnh vật, người, chim, hươu... đều xoay
quanh mặt trời ngược chiều kim đồng hồ... ta dễ dàng đoán nhận
chủ nhân trống đồng là những người có tín ngưỡng thờ thần mặt
trời. Đó là một tín ngưỡng phổ biến trong những cư dân nông
nghiệp, trong những nền văn minh nông nghiệp. Cô-la-ni (16) và
Qua-rít Uơ-lớt (17) đã ghi nhận từ lâu tín ngưỡng thờ thần mặt
TRẦN QUỐC VƯỢNG
23
trời của chủ nhân trống đồng, chủ nhân văn hóa Đông Sơn. Di
tích của tục thờ thần mặt trời còn tồn tại khá phổ biến trong
những nhóm dân tộc ở vùng Đông Dương và Đông Nam Á này.
Không phải chỉ ở những mô típ trang trí hình mặt trời và hình
“chìm mặt trời” (18) trong những đồ trang sức của người miền
núi. Mà còn sống động ở trong những lễ nghi nông nghiệp. Chỉ
lấy một ví dụ ở người Kinh: tục vật cầu (vật cù) ngày xuân. Những
trò chơi có vai trò của quả bóng (cầu) như vật cầu, đá cầu, đánh
phết... đều có liên quan đến tục thờ mặt trời. Quả cầu thường
được sơn đỏ (biểu tượng mặt trời), người chơi chia làm hai phe
và bao giờ cũng là phe đông và phe đoài (tây). Quả cầu sơn đỏ
xoay chuyển từ đông sang tây là tượng sơn đỏ xoay chuyển từ
đông sang tây là của mặt trời trên bầu trời.
Với ngôi sao-mặt trời ở giữa mặt trống ta chú ý thêm rằng
hình tượng trên trống, trên thạp... ưu tiên thuộc về chim hươu và
những "người chim”, “người hươu”. Tất cả đều là biểu tượng của
MẶT TRỜI - LÚA - NẮNG HẠN - NÚI - VÙNG CAO. Tổng
thể thần thoại-xã hội nói về thời dựng nước cũng giành ưu tiên:
Cho dòng MẸ ÂU: Hùng Vương thuộc dòng mẹ Âu.
Cho thế lực NÚI: Sơn Tinh thắng Thủy Tinh.
Điều đó có ý nghĩa xã hội gì?
Phải chăng chủ nhân trống đồng loại 1 thuộc về tập đoàn
NÚI, nhóm dân tộc lấy biểu trưng là CHIM - HƯƠU - LỬA -
NẮNG HẠN thuộc triều đại MẶT TRỜI và vẫn theo dòng MẸ?
Điêu quan trọng hơn là với sự xuất hiện trống đồng phải chăng xã
hội Việt cổ đã nhảy vọt từ “tiền sử” sang “thự sử” hay “lịch sử”, từ
chế độ thị tộc nguyên thủy sang chế độ thủ lĩnh. (19)
Sự thịnh đạt của việc thờ THẦN MẶT TRỜI trên phạm
vi toàn thế giới
gắn liền với việc thần thánh hóa chế độ tù
-
trưởng, thủ lĩnh, gắn liền với sự xuất hiện những ông vua đầu
tiên. Và những vua đầu tiên thì đều là những “vua-phù thủy” (20)
như G. Phrê-đơ đã chứng minh.
Xin lưu ý đến một câu của Đại Việt sử lược (quyển 1): “Đời
Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên) ở bộ Gia
Ninh có một dị nhân dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự
xưng là Hùng Vương.”
TRONG CÕI
24
THỂ LƯỠNG HỢP
và
LƯỠNG PHÂN
SÔNG
NÚI
NƯỚC
LỬA
CHIM, HƯƠU, GÀ
RẮN, RỒNG, RÙA
(xăm mình)
(áo lông chim)
THỦY TINH
SƠN TINH
LẠC
ÂU
VĂN HÓA ĐÔNG SƠN
VĂN MINH NÔNG NGHIỆP
VÙNG THẤP
VÙNG CAO
(nương rẫy)
().
LUYỆN KIM ĐỒNG SẮT
TRỐNG ĐỒNG
NGHI LỄ NÔNG NGHIỆP
(cầu mưa, chống lụt, đua thuyền,
kéo co, thả diều...)
THỤC
HÙNG
(Cổ Loa)
(Núi Nghĩa)
1
THẦN MẶT TRỜI
THỦ LĨNH
TRẦN QUỐC VƯỢNG
25
THỂ LƯỠNG HỢP
và LƯỠNG PHÂN
VIỆT CỔ
ÂU
LẠC
LÝ
LÃO
THÁI
THỦY BÁI DI (Pa-dí)
HẠN BÁI DI (Pa-dí)
THOÁN
TÂY THOÁN BẠCH MAN ĐÔNG THOÁN Ô MAN
(Tộc Bạch)
(Tộc Di)
(Sát hãn chương)
(Cáp lại chương)
(Nguyên Sử)
(Nguyên Sử)
(Caqanjang)
(Qarajang)
LÔ LÔ
HẮC LÔ LÔ
BẠCH LỖ LỖ
(Lô Lô đất)
(Lô Lô nước)
GIA RAI
HỎA XÁ
THỦY XÁ
(Mtao Pui)
(Mao Ea)
CHÀM
DÒNG CAU (Mẹ)
DÒNG DỪA (B6)
KHƠ-ME CỔ
MẶT TRỜI
(Triều đại)
MẶT TRĂNG
(Triều đại)
TRONG CÕI
26
Cho nên có thể cho rằng trống đồng là biểu tượng của một
quyền uy xã hội. Những ghi chép thời sau nói rõ điểm đó. Chẳng
hạn Tùy thư-Địa lý chỉ (quyển 31) chép: “Các người Lão đều đúc
đồng làm trống lớn... người có trống được gọi là đô lão, được
quần chúng suy phục.” Mỗi trống đồng trị giá hàng trăm, thậm
chí hàng nghìn trâu bò; ai có hai, ba cái trống đồng thì đã có thể
“tiếm hiệu xưng vương” (Minh sử, quyển 212). Theo Tấn thư
Thực hóa chí, quyền uy chính trị, xã hội và sức mạnh kinh tế của
các “cừ súy” (thủ lĩnh dân tộc) ở Giao Châu được biểu hiện bằng
số lượng trống đồng, sản vật quý (ngọc trai, sừng tê) và đầy tớ hầu
hạ. Cũng theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên thì khi tù trưởng
gióng trống đồng là hiệu lệnh tập trung quần chúng, dân kéo đến
như mây tụ, sẵn sàng đợi lệnh ra quân. Ở phương Nam, trống
đồng là vật để thưởng cho người có chiến công lớn. (Tân Đường
thư - quyển 222 - Nam Man truyện).
Cũng bởi trống đồng là biểu tượng của quyền uy nên bọn
phong kiến phương Bắc khi chinh phục phương Nam đều tịch
thu trống đồng. Mã Viện thời Đông Hán, Gia Cát Lượng thời
Tam Quốc, Lan Khâm đời Lục Triều... đều làm như thế cả. Mã
Viện, song song với việc tiêu diệt chế độ Lạc tướng, đầy hơn 300
thủ lĩnh người Việt sang Linh Lăng (Hồ Nam) đã phá hủy trống
đồng Lạc Việt để đúc ngựa đồng. Phải chăng đấy là biểu trưng
của việc phá cấu trúc xã hội cũ của người Việt dựa trên chế độ
thủ lĩnh thế tập? Việc thủ lĩnh người Việt thời chống Bắc thuộc
phá tiền đồng của nhà Tấn để đúc lại trống đồng phải chăng là
biểu tượng của sự đối kháng giữa uy quyền thủ lĩnh Việt với
quyền ủy của “Thiên triều”? Trên tiến trình lịch sử, nếu cột đồng
trở thành biểu tượng của chủ nghĩa bành trướng, của kẻ chinh
phục thì trống đồng đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu
n...
trần quốc vượng
KÍNH BIỂU
TRĂM HOA
4692
P.O. BOX
GARDEN GROVE, CA92642-USA
спили
nhà xuất bản TRĂM HOA
P.O. Box 4692, Garden Grove, CA 92642, USA
ཉ - 53
CẢM TẠ
Chúng tôi chân thành cám ơn các thân hữu, cộng tác
viên đã giúp đỡ trong tinh thần tự nguyện det
để tập sách này có
thể ra đời.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ tất cả những người
đã khích lệ, ủng hộ công việc làm của chúng tôi.
Những điều trên, càng làm chúng tôi tin tưởng hơn nữa,
quyền tự do ngôn luận là một quyền tối thượng, không những
của tác giả Trần Quốc Vượng mà còn của tất cả mọi người.
nxb Trăm Hoa
TRONG CÕI
1) Vài suy nghĩ tản mạn về trống đồng
2) Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ
3) Từ huyền tích đến lịch sử
4) Tây Sơn Quang Trung
và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII
.9
335
30
·
•
•
5) Đô thị cổ Việt Nam
•
51
65
76
6) Vị thế địa - lịch sử
và bản sắc địa - văn hóa của Hội An
.103
7) Một các nhìn văn hóa học
về Văn Miếu - Quốc Tử Giám
.115
8) Hội hè dân gian
.119
9) Căn bản triết lý
người anh hùng Phù Đổng và Hội Gióng
.126
10) Triết lý trầu cau
.139
11) Triết lý bánh chưng bánh dầy
.143
12) Một thời đã qua, một thời đang tới...
13) Dân gian và bác học.
.148
.159
14) Việt Nam: 100 năm giao thoa
văn hóa Đông-Tây
15) Lời truyền miệng dân gian
về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia
.196
.
.233
16) Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam
Nhân bản - Dân tộc - Dân chủ - Khoa học
17) Nỗi ám ảnh của quá khứ
Lời bạt của nhà xuất bản Trăm Hoa
.262
.272
.283
trách nhiệm xuất bản:
nhà xuất bản TRĂM HOA
sưu tập tài liệu:
Tường Vũ Anh Thy
trình bày bia:
Khánh Trường
đánh máy:
Nguyễn Quốc Trung, Phạm Việt Cường
sửa chữa bản in:
Đỗ Hữu Tài
chọn lựa và biên tập:
Hoàng Sử Mai
9
bài số 1
VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN
VỀ TRỐNG ĐỒNG
Quanh câu chuyện “Hùng Vương dựng nước”
được viết
thành văn bản với Việt Điện U Linh, Đại Việt Sử Lược và nhất là
với Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư... đã lắng
đọng, ngưng kết lại nhiều mẩu thần thoại có trước và nhiều huyền
thoại, truyền thuyết có sau thời dựng nước. Dưới sự chỉ đạo của
tư tưởng lịch sử - nho giáo, tất cả yếu tố đó đã được cấu trúc lại
thành một hệ thống, mới thoạt nhìn thì cũng có một dáng vẻ duy
lý, hoàn chỉnh nào đó, nhưng nếu đi sâu phân tích từng chủ đề,
từng mô típ... ta thấy khá rõ ràng rằng đấy chỉ là một khối liên
kết nhân tạo, muộn màng, rối rắm và mâu thuẫn...
Trên nền tảng tư tưởng mác-xít, các nhà khảo cổ học đang đi
tiên phong trên con đường cấu trúc hóa lại quá khứ. Và cùng với
họ, các nhà thần thoại học và dân tộc học đang cố gắng tiến lên
trong quá trình hệ thống hóa lại thần thoại Việt Nam về cội
nguồn dân tộc. Công việc đang làm, còn nhiều chập chững vụng
về và vấp váp nữa, cố nhiên, song đang tỏ rõ nhiều triển vọng tươi
sáng. Bám chắc lấy TRỐNG ĐỒNG và các hiện vật khảo cổ khác
mà ngắm nhìn, suy đi nghĩ lại mãi thì sẽ có ngày phá bỏ được lịch
sử nhận thức cũ, xây dựng được một lịch sử nhận thức mới tiếp
cận hơn với lịch sử thực tại thời dựng nước.
Cứu thoát khỏi sự mất mát vĩnh viễn với thời gian một mẩu
câu ca “Ông Đổng mà đúc trống đồng..." câu "Trống rồng canh đã
điểm ba..." trong điệu múa hát “Trống rồng”; dò tìm và phục
nguyên trò “Múa rồng” liên quan đến tục thờ Lạc Long Quân
Bắc Ninh cũ, liên hệ với trò chơi “rồng Ân” của
được thành văn bản bài mo Mường “Đãn khâu” (trống đồng);
TRONG CÕI
10
tiến lên nghiên cứu nghề luyện đồng, luyện sắt cả về phương diện
khảo cổ học và dân tộc học; rồi thu nhập thêm tài liệu và nghĩ lại
để vạch ra quá trình sinh thành và hoàn thành chuyện Phù Đổng
Thiên Vương, người anh hùng làng Gióng. Phải chăng qua bao
công phu vất vả lao động khoa học như thế, ít nhất ta cũng rút ra
được một điểm này: Câu chuyện người anh hùng làng Gióng - mà
diện mạo cuối cùng chứa chan tình yêu nước, tinh thần giữ nước
và tinh thần toàn dân đánh giặc bảo vệ làng xóm quê hương - vốn
xuất phát từ lõi cốt một thần thoại ở một vùng luyện kim, của
những người thợ rào? Ông Đổng khổng lồ, để lại dấu chân khổng
lồ, là hình tượng NÚI. Mọi từ lòng núi ra kim loại mà đúc trống,
rèn roi, ngựa. Tiếng búa đe là tiếng vang của SẤM SÉT. Tiếng
trống là biểu tượng của tiếng sấm. Trống sấm. “Đánh trống qua
cửa nhà sấm...” những điển cố văn học ấy chỉ là những mẩu thần
thoại bị cắt vụn và phai nhòa.
Ngựa hí vang, hơi thở thiêu đốt một làng (làng CHÁY) là
biểu tượng của LỬA.
Và đối lập — mà cũng có hòa hợp — với NÚI-SẤM-LỬA,
-
là SÔNG-NƯỚC-MƯA. Ông Đổng con “uống một hớp nước
cạn đà khúc sông” phải đâu chỉ là một ngoa dụ văn chương! Đó
là triết lý lưỡng phân và lưỡng hợp NÚI-NƯỚC.
Chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, đã trải qua một quá trình
“lịch sử hóa” và “thời sự hóa” và được gán cho một ý nghĩa chống
lụt cao đẹp, xuất phát là - và vốn là - dị bản của một huyền thoại
phổ quát về HỒNG THỦY - TRẬN LŨ LỤT KHỞI
NGUYÊN, bên trong chứa đựng ý niệm về thể lưỡng phân và
lưỡng hợp (1) giữa NÚI-NƯỚC, THẦN NÚI-THẦN NƯỚC,
HẠN HÁN-MƯA DÔNG. Đâu phải ngẫu nhiên thần Tản Viên
- Sơn Tinh - được gắn cho hình tượng cưỡi chim diều hâu và Thủy
Tinh được gắn cho hình tượng rắn nước. Chim -đặc biệt loài chim
ăn thịt, vồ mồi- diều hâu, quạ (Kinh), kláng hay tráng (Mường),
klang (Dao, Ba-na, Mnông...), kalang (Chàm), khlèng (Khơ-me),
kling-klang (Chu-ra), kelang (Sê-măng), kling (Kha-xi)... hay
hươu... là biểu tượng của mặt trời, núi, hạn hán. Rắn nước, hay
rùa vàng, hay cua... là biểu hiện ý niệm lưỡng phấn-lưỡng hợp:
Sơn Tinh, theo chuyện kể, là bạn Thủy Tinh, vốn cùng một nơi;
TRẦN QUỐC VƯỢNG
11
Tản Viên Sơn thánh đã cứu rắn, vốn là con vua Thủy Tề (Bua
Khú của người Mường),... sau hai bên lại đánh nhau, là biểu hiện
rõ rệt cái ý niệm lưỡng hợp đồng thời là lưỡng phân đó.
Huyền thoại HỒNG THỦYcủa nhiều nhóm dân tộc ở Đông
Nam Á (Mèo, Dao, Xá, Pọng, Pung, Lào, Xiêm...) vùng quê
-
và vùng ảnh hưởng của TRỐNG ĐỒNG và văn hóa Đông Sơn
— đã được “găm” thêm mô típ trống đồng (hay chiêng đồng,
-
chiêng vàng, nồi đồng, trống da...) được coi như con thuyền cứu
nạn, nơi trú náu của cặp gái trai (anh em hay chị em trai) cũng
là cặp vợ chồng khởi nguyên, chứa đựng cuộc loạn luân nguyên
thủy sáng tạo ra loài người.
Ngày xưa, ở Việt Nam và khắp vùng Đông Nam Á, trung tâm
văn minh nông nghiệp trồng lúa nước cổ truyền, có những nghi
lễ chống lụt hay cầu mưa.
Tháng 4 đầu mùa mưa, người ta tổ chức tế thần TRỐNG
ĐỒNG. Trống đồng gắn với núi: “Đồng cổ sơn thần.”
Mưa lụt, đánh trống, trống đồng hoặc trống da. Tiếng trống
là tượng trưng tiếng sấm.
Không đánh trống, thì về sau người ta bắn súng. Tiếng súng
thay tiếng trống, cũng là biểu tượng tiếng sấm. Phong tục vùng
ven sông Đà - người Mường trước Cách mạng tháng Tám - cũng
được ghi lại trong Hưng Hóa xứ phong cổ lục: nước sông Đà lên
to, người ta bắn súng vào vách núi đá ven sông, tỏ ý mong nước
rút.
Nếu không, thì dùng cung tên bắn sóng (vùng Ngô Việt, thế
kỷ thứ 10).
Nếu không, thì làm lễ nhúng gươm xuống nước. Mũi tên là
tượng trưng tia sáng mặt trời, thanh gươm là tượng trưng tia
chớp, đều là biểu tượng của LỬA. Mũi tên bắn từ nỏ thần Vua
Thục:
Chỉ sông, sông cạn;
Chỉ núi, núi tan;
Chỉ.ngàn, ngàn cháy...
Thanh gươm của thủ lĩnh Hoả Xá (Tây Nguyên), là tượng
trưng của sấm sét. Gươm thiêng của các vua Cam-pu-chia thuở
trước, nếu rút ra khỏi vỏ mà không trải qua nghi lễ, người ta tin
1
1
F
TRONG CÕI
12
rằng cả vương quốc sẽ bị Lửa thiêu tàn. Nhúng gươm xuống nước
là biểu thị sự hòa hợp (lưỡng hợp) NƯỚC-LỬA, một nghi lễ
phồn thực. Nhưng nhúng gươm xuống nước cũng là biểu thị thế
lưỡng phân NƯỚC-LỬA: lửa trị nước, nước rút, nghi lễ chống
lụt.
Vua Thái Lan xưa dùng gươm vàng dập nước sông: đó là một
nghi lễ chống lụt. Rùa vàng dâng lẫy nỏ thần cho Vua Thục; làm
từ NƯỚC, nỏ ấy lại bắn những mũi tên cháy: NƯỚC-LỬA chia
hai mà hòa một. Từ nước, Lê Lợi được trao thanh gươm thần,
khắc chữ “Thuận Thiên”, Gươm ấy gây ra tiếng sấm Lam Sơn,
đám cháy khởi nghĩa thiêu cháy giặc Minh xâm lược. Đánh xong,
vua lên ngôi, chơi thuyền trên hồ Thủy Quân, gặp Rùa Vàng, vua
tuốt gươm nhúng xuống nước, rùa đớp lấy mang trả về cho nước.
Sự tích hồ Hoàn Kiếm - gắn với một vị anh hùng lịch sử - là sự
diễn tả về mặt thần thoại một nghi lễ cổ xưa chung cho cả vùng
Đông Nam Á: nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hòa hợp nước-lửa,
sự phồn thực.
Trống đồng gắn liền với lễ tiết nông nghiệp. Trên đã nói tiếng
trống gắn liền với tiếng sấm, là tượng trưng của tiếng sấm.
Vì vậy trống - trống đồng, trống da - nhiều khi cũng gọi là
trống sấm. Ở Trung Hoa cổ, thần sấm (Lôi công) được hình dung
là thần đội mũ trên có đeo những chiếc trống nhỏ. Ở nhiều nơi
-
như vùng hải đảo Đông Nam Á, trống đồng còn được gọi là
“trống mưa”. Trống cầu mưa. Trên mặt trống Ngọc Lũ, bên cạnh
nhà sàn có một sàn không mãi, chạm khắc cảnh đánh trống đồng
và rất nhiều nét khắc thẳng chạy nối nhau theo chiều dọc, tượng
trưng những giọt mưa rơi. Có thể gọi đó là “cảnh cầu mưa”. Vừa
đánh trống vừa hát khúc lễ ca cầu mưa, như kiểu câu ca ngày sau:
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơn,
Lấy rơm đun bếp,
Lấy nếp bánh chưng...
Cũng vì vậy mà trên mặt trống loại 1 hậu kỳ (trống Hữu
Chung chẳng hạn) và các trống muộn hơn (loại 2, loại 3... theo
'
TRẦN QUỐC VƯỢNG
13
cách chia loại của Hê-gơ) có gắn tượng cóc. Cóc một và đặc biệt
cóc võng nhau (lại một ý tưởng phồn thực!). Cóc nghiến răng
nhiều, trời ắt mưa. Gắn tượng cóc trên trống, tiếng trống biểu
hiện tiếng cóc gọi mưa. Cóc là một biểu tượng “lưỡng trị” (2) nối
liền TRỜI và ĐẤT. Rồi mô típ thần loại ấy mờ phai và hòa vào
chuyện cổ tích “cóc kiện trời”, tan vụn thành điển cố văn chương
“con cóc là cậu ông Trời”...
Ở Trung quốc cổ, có quan niệm tiếng trống gọi rồng, con quái
vật ở nước và giữ bầu nước của trời, chịu trách nhiệm phân phối
nước mưa cho trời đất. Nếu cóc, rồng, cá là tượng trưng cho ướt
át mưa đông thì loài hươu - đặc biệt là hươu sao, hươu có bộ lông
đỏ - là biểu tượng của hạn hán, của lửa thiêu. Đánh trống cầu
mưa. Đánh trống để cứu hạn. Như trong quan niệm của người
Đay-ắc (In-đô-nê-xi-a) tiếng trống có một tác dụng ma thuật đối
với hươu. Nghe tiếng hươu kêu - tiếng kêu của hạn hán, người
ta đánh trống để đuổi xua niềm rủi.
Trống đồng gắn với lễ tiết nông nghiệp còn biểu hiện ở việc
gắn với tục đua thuyền. Vùng phân bố trống đồng - với Bắc Việt
Nam là trung tâm, phía bắc là Quảng Đông, Quảng Tây, Vân
Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Giang Tây (Hoa Nam nói
chung), phía nam là vùng hải đảo cho đến Xa-lây-ơ (3), phía đông
là những đảo Ke-iê (4), phía Tây là Lào, Cam-pu-chia, Thái
Lan... cũng là vùng phân bố các hội nước, hội đua thuyền. Dọc
sông ngòi miền Bắc - sông con, sông cái - đâu chẳng có đền thờ
RẮN hay RỒNG (cho dù với xu hướng “lịch sử hóa”, rắn rồng
đã hóa thân thành tướng Hùng Vương, tướng bà Trưng, tướng
Triệu Việt Vương...). Và bao quanh những đền thờ đó là hội
nước, hội đua thuyền cầu mưa. Rắn, rồng, thuồng luồng, cá sấu...
là biểu tượng của NƯỚC, của THẦN NƯỚC và ĐÊM TỐI,
MƯA DÔNG.
Thuyền đua cầu mưa được biểu tượng bằng thuyền rồng đầu
rắn đuôi tôm... Đua thuyền và hát lễ ca cầu mưa, cầu phồn thực.
Tựa như bài Rao đua thuyền đầu rắn đuôi tôm vào ngày 18 tháng
6 hằng năm sau đây ở vùng Vân Hải (Quảng Ninh):
Đầu năm về giữa, nửa năm thường lề.
Một năm là mười hai tháng
14
TRONG CÕI
Trên thì đóng bàn thờ thần,
Dưới thờ ngũ vị đại vương.
Hộ cho làng ta:
Cho già sức khỏe,
Cho trẻ bình yên,
Cho dân an quốcmạnh
Trên thì đóng đám thờ thần,
Dưới sông ta có đổi chiếc thuyền rồng ta bẻ mũi chèo bơi...
Trên tang trống đồng có khắc hình thuyền. Thuyền ở trống
Ngọc Lũ như Nguyễn Từ Chi đã phát hiện — rõ ràng là hình
rắn nước nằm ngửa há mồm, thân rắn là thân thuyền. Đó là hình
-
tượng sớm nhất của thuyền rồng. Thuyền trên trống Quảng
Xương thì rõ ràng là thuyền đua. Và thuyền nào cũng có trống
đồng chở theo. Đua thuyền là một phương thức, một lệ thức cầu
cúng thần nước, cầu mưa. Ấy là chưa kể tục chơi kéo co, thừng
kéo là biểu tượng loài rắn; tục kéo co cũng gắn liền với nghi lễ
cầu được mùa.
Dưới đây xin trích bốn trong nhiều bài thơ - thơ Đường - có
nói đến trống đồng, minh họa chuyện trống đồng có liên quan
mật thiết đến lễ ca và lễ thức cúng thần - đặc biệt là thần NƯỚC
- nghi lễ cầu mưa:
菩薩蠻詞
木綿花映叢祠小
越禽聲裏 春光曉
銅鼓與蠻歌
南人析賽多
孫光憲
TRẦN QUỐC VƯỢNG
15
Bồ Tát Man Từ
Mộcmiền hoa ánh tùng từ tiểu
Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu
Dong co du Man ca
Nam nhân kỳ trại đa
Tôn Quang Hiến
(Đền Bồ Tát người Man
Ngôi đền nhỏ trong bụi cây tỏa ánh hoa mộc miên
Trong tiếng hót chim Việt thấy ánh sáng ban mai mùa xuân
Trống đồng và bài hát Man
Người Nam cầu cúng nhiều)
籐閣中春綺席開
柘枝蠻鼓殷睛雷
杜牧
Đằng các trung xuân ý tịch khai
Thác chi Man cổ ân tình lôi
Đỗ Mục
(Mùa xuân, trải chiếu gấm giữa gác Đằng
Qua lá cành tiếng trống Man hòa trong tiếng sấm)
瀆神村
銅鼓賽神
神来
滿庭幡蓋徘徊
水對江浦過風雷
楚山如畫煙開
溫廷筠
I
TRONG CÕI
16
Độc thần từ
Đồng cổ trại thần lại
Mãn đình phan cái bồi hồi
Thủy đối giang phố quá phong lôi
Sở sơn như họa yên khai
Ôn Đình Quân
(Đền thần bến sông
Trống đồng cầu cúng thần
Đầy sân cờ lọng bồi hồi
Gió sấm lướt trên mặt nước bến sông
Khói mây mờ núi Sở như tranh vẽ)
送客南歸詩
瓦樽留海容
銅鼓賽江柛
許渾
Tống khách nam quy thi
Ngõamôn lưu hải khách
Đồng cổ tại giang thần
Hứa Hồn
(Thơ tiễn khách trở về nam
Chén sành lưu khách biển
Trống đồng cúng thần sông)
Trống đồng và trống sấm. Trống đồng và cóc. Trống đồng và
tục đua thuyền. Trống đồng và thần sông. Trống đồng và thuyền
rồng. Trống đồng và hồng thủy. Cộng thêm vào đó là việc Thủy
kinh chú, Thái bình ngự lãm, Nguyên Hòa quận huyện chí, Thái
bình hoàn vũ ký chép biết bao là truyền thuyết về những nơi tìm
thấy trống đồng Lạc Việt, thuyền đồng vua Việt ở sông, ở ao,
đầm... Trên trống đồng, trong hình thuyền, có cảnh bắt người,
đâm giáo vào đầu người. Trên một qua đồng Đông Sơn, có cảnh
TRẦN QUỐC VƯỢNG
17
người cầm đầu lâu giơ lên. Có lẽ những cảnh đó có liên quan đến
tục “săn đầu lâu”. Sách Nam Châu dị vật chí (dẫn ở Thái bình ngự
lãm, quyển 786) nói rằng: “Người Ô Hử ở vùng giáp giới Giao
Châu và Quảng Châu... ra đường rình bắt giết người (không lấy
của cải), đem về nhà, tụ tập bà con láng giềng, treo người chết
giữa nhà, ngồi vây bốn chung quanh, đánh trống đồng, hát múa và
uống rượu...”. Mọi người đều biết, tục “săn đầu lâu” về phương
diện dân tộc học, là một nghi lễ nông nghiệp, một nghi lễ phồn
thực (lấy máu người bị giết rỏ xuống đất đai, hay rỏ xuống một
thủng tro rồi dùng tro ấy rắc xuống đất đai) cầu mong đất đai có
thêm sinh lực để sinh sôi nảy nở, mùa màng thêm tươi tốt.
Tất cả những điều đó nói lên mối quan hệ giữa trống đồng và
lễ tiết nông nghiệp, lễ thức cầu mưa, cầu được mùa, lễ thức phồn
thực...
Ta hãy suy nghĩ lại thêm một huyền thoại nữa - huyền thoại
Âu Cơ Lạc Long Quân - để tìm hiểu thêm về triết lý trống đồng và
tổng thể thần thoại-xã hội (5) thời dựng nước.
“Âu Cơ” là nàng Âu, nàng tiên Âu, nàng người Âu ở núi
rừng. “Lạc Long Quân” là vua rồng Lạc, vua rồng người Lạc, xứ
Lạc ở vùng sông nước. Âu Cơ lấy Lạc Long Quân: lưỡng hợp Âu
Lạc. Âu Cơ chia con với Lạc Long Quân, một nửa về ở núi rừng,
một nửa sống trong vùng sông nước: Lưỡng phân Âu Lạc.
Huyền thoại này cũng chứa đựng cái ý niệm cơ bản về thể lưỡng
hợp và lưỡng phân NÚI-NƯỚC. Một dị bản của huyền thoại này
- được Gian Quy-di-niê (6) ghi lại ở vùng Chiềng Khến (Mường
Sến, Mẫn Đức, Tân Lạc, Hòa Bình) - nói về nàng HƯƠU SAO
và
lấy chàng CÁ CHÉP sinh 100 con rồi cùng chia đôi con, 50 con
theo mẹ lên núi lập ra dòng vua áo chàm, 50 con theo bố về biển,
lập ra dòng vua áo vàng. Suy nghĩ thêm về lá cờ của thầy mo
Mường, một bên vẽ HƯƠU, một bên vẽ CÁ, ta càng thấy đó là
tim
ao,
,
cảnh
biểu hiện của thế lưỡng hợp và lưỡng phân NÚI NƯỚC,
HƯƠU (hay CHIM)-CÁ (hay RẮN).
TRONG CÕI
18
Ta lại nghĩ thêm về câu chuyện quan hệ HÙNG-THỤC và
câu chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Theo truyền
thuyết, Hùng Vương có con rể là tướng phò tá trụ cột - tướng
tổng chỉ huy đánh Thục - là sơn thánh Tản Viên (nếu không kể
thêm hai “em họ” Tản Viên là Cao Sơn, Quý Minh, cũng là thần
núi và cũng được thờ phổ biến ở miền Bắc nước ta, nhiều khi
dưới dạng “ba mà một"(7) như ở Đền Thượng, Đền Trung, Đền
Hạ tại Ba Vì), Thần núi Tản cưỡi CHIM (diều hâu). Hùng
Vương mất ngôi cũng về với NÚI (lên núi Tản “dưỡng nhàn” hay
là được thờ ở trên núi Nghĩa), chim bạch trĩ, chuyện chim thiêng
đậu trên cây chiên đàn, tên đất Bạch Hạc... đều gắn liền với nhà
Hùng. Chưa kể tên Văn Lang - như chúng tôi đã chứng minh cũng là tên chim Kláng. Có thể thấy rõ Hùng Vương (cùng với
--
_
Tản Viên) là biểu tượng của thế lực NÚI-CHIM. Huyền thoại
cũng nói vua Hùng Vương theo dòng MẸ (Âu Cơ ở NÚI
RỪNG), là người con trưởng trong số 50 con theo MẸ về NÚI
(8); Tản Viên ban đầu theo BỐ, sau cũng ngược lên NON theo
MẸ. Trục trung tâm của đất đai nhà Hùng là NÚI NGHĨA.
Vua Thục thay thế nhà Hùng, dời đô về đồng bằng, chung
quanh đầy đầm vực. Xây thành Cổ Loa, Thục Vương bị tinh vua
cũ - hay là TINH GÀ TRẮNG (Bạch Kê) quấy rối, phá hoại. Gà
Trắng sống ở HANG NÚI. Núi Thất Diệu (Yên Phụ, Yên
Phong, Hà Bắc). Nhờ RÙA VÀNG - hay Thanh Giang Sứ - từ
NƯỚC hiện lên, giúp vua Thục trừ tinh Gà Trắng, thành Cổ Loa
mới xây xong. Rùa vàng (Kim Quy) còn bỏ móng dâng vua Thục
để Cao Lỗ làm lẫy nỏ thần. Khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc, vua
,
Thục thua, chạy về BIẾN (hay về LỤC ĐẦU GIANG, tùy dị bản,
nhưng đều là trở về với NƯỚC), Rùa vàng lại hiện lên chỉ cho
vua rõ đâu là giặc và rước vua về BIỂN làm Nam Hải Vương.
Toàn là huyền thoại! Hay phần lớn là huyền thoại! Huyền thoại
này xây dựng vua Thục thành biểu tượng của NƯỚC, người phò
tá chính là RÙA VÀNG cũng là biểu tượng của thế lực NƯỚC.
Thế lực chống đối Thục là Gà Trắng, cũng tức là chim (chim cú),
ở núi, rõ ràng là biểu tượng của thế lực NÚI-CHIM.
TRẦN QUỐC VƯỢNG
19
Quan hệ HÙNG-THỤC được huyền thoại diễn tả thành
quan hệ NÚI-CHIM (hay gà)-NƯỚC-RÙA Căn bản vẫn là một
quan niệm lưỡng phân và lưỡng hợp.
Ý niệm lưỡng phân và lưỡng hợp này còn đeo đuổi tư duy
Việt cổ nhiều lắm, lâu lắm. Chẳng hạn quan hệ hôn nhân Tiên
Dung - Chử Đồng Tử cũng là một quan hệ hôn nhân lưỡng phân
và lưỡng hợp (9). Tiên Dung: nàng có dung nhan tiên nữ, người
ở NÚI, con vua HÙNG ở núi. Chử Đồng Tử: chàng trẻ họ Chử,
chàng trẻ ở bến Nãi, sống dưới NƯỚC. Nếu đôi vợ chồng về sau
cùng bay lên TRỜI thì cũng còn để lại ở đời, trên bãi TỰ
NHIÊN, một cái chằm: ĐẦM DẠ TRẠCH ((ĐẦM ĐÊM. Đêm
tối và nước - theo tư duy thần thoại - là có thể đồng nhất).
Đến như tên đô hộ kiêm đạo sĩ Cao Biền - một nhân vật lịch
sử 100% - cũng bị tư duy huyền thoại vẽ thành một đạo sĩ cưỡi
diều giấy đi tìm đất có huyệt đế vương để yểm. Diều (giấy) là
đồng nhất với chim diều trong biểu tượng thần thoại (người Việt
và nhiều nhóm dân tộc Đông Nam Á đều gọi “diều giấy” bằng
tên chim diều, còn người Âu gọi bằng tên “hươu bay” (10). Diều,
chim bay hay hươu đều là biểu tượng của NÚI TRỜI HẠN
HÁN đối lập với NƯỚC-RẮN-MƯA. Nếu người ta đua thuyền
rồng trong mùa mưa, cầu mưa, thì người ta cũng có tục thả diều
trong mùa khô, cầu gió heo may thổi... Huyệt đế vương là long
mạch, mạch rồng, mạch nước thiêng. Huyền thoại Cao Biền cưỡi
diều giấy điyểm long mạch cũng bị quan niệm lưỡng hợp và lưỡng
phân cổ truyền chi phối.
Nếu nghiên cứu thêm thì còn có thể kể ra nhiều lắm. Hãy xin
tạm kết luận:
Các huyền thoại Việt Nam có liên quan đến thời dựng nước,
Âu Cơ-Lạc Long Quân, Sơn Tinh-Thủy Tinh, Hùng-Thục... đều
phản ánh một hệ thống lưỡng hợp và lưỡng phân (11) nằm trong
cả một tổng thể thần thoại-xã hội hợp thành thế lưỡng phân và
lưỡng hợp đó.
Điều vô cùng lý thú là: có thể “đọc” được thế lưỡng phân và
lưỡng hợp này trên trống đồng (và thạp đồng...). Nói cách khác,
có thể “đọc” được trên mặt trống và tang trống, những mẫu đề
thần thoại về thời DỰNG NƯỚC mà về sau, qua một quá trình
TRONG CỐI
20
20
lâu dài “lịch sử hóa”, “thời sự hóa” và “đạo giáo hóa”, đã được
ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái.
Nếu trên mặt thạp đồng Đào Thịnh, ta đã thấy 4 cặp
TRAI-GÁI giao phối được tạo hình bằng thế tượng tròn thị trên
mặt trống Ngọc Lũ, xen kẽ giữa các tia của ngôi sao MẶT TRỜI,
Bùi Huy Hồng đã “đọc” được, nhận ra được hình tượng cặp ÂM
VẬT-DƯƠNG VẬT được khắc chìm và ít nhiều đã biến điệu và
cách điệu hóa, nếu không muốn nói là đã được hình học hóa.
Hình tượng động vật khắc trên trống đồng (và các hiện vật
Đông Sơn khác) được chia thành hai nhóm:
- Nhóm ở cạn: chim, hươu...
-
-
Nhóm ở nước: cá, cá sấu, rắn nước, ếch nhái...
Có lẽ, như Nguyễn Từ Chi dự đoán, còn một con vật mang
tính chất “Lưỡng trị”. vừa ở cạn, vừa ở nước - đó là con rái cá,
được chọn khắc trên trống đồng và cả ở trên chiếc giáp đồng
Miếu Môn (Hà Tây).
Hơn là một hình tượng hiện thực, ở đây còn là những biểu
tượng (12), còn ẩn dấu những thần thoại tố (13), những ý niệm
thần thoại.
CHIM-HƯƠU là biểu tượng của NÚI-TRỜI-NẮNG HẠN
THẾ GIỚI BÊN TRÊN. CÁ, RẮN là biểu hiện của ĐẤT
NƯỚC-MƯA DÔNG-ĐÊM TỐI-THẾ GIỚI BÊN DƯỚI.
Lạc Long Quân là tên chữ hán và là sự “nhân hóa” - rồi cả
“phong kiến hóa” — của cá chép, rắn nước, thuồng luồng, cá
-
sấu...
Âu Cơ là tên chữ Hán và là sự “nhân hóa” của chim, hươu...
Trong những hình tượng động vật được chạm khắc, từng loại
cũng được biểu hiện theo ý niệm lưỡng phân:
-
Chim: có chim bay và chim đậu, xen kẽ. Đó là thế lưỡng
phân ĐỘNG-TĨNH.
Hươu: có hươu đực và hươu cái xen kẽ, vòng quanh mặt
trời (tất cả chim, hươu... đều bay, đi vòng quanh mặt trời ngược
-
chiều kim đồng hồ: sự biểu hiện của một vũ trụ luận sơ khai). Đó
là cái thế lưỡng phân ĐỰC-CÁI.
Ở trên thạp đồng Việt Khê (Hải Phòng) còn có hình tượng
hươu có cánh, hươu bay, bụng chửa (ý niệm phồn thực) mang
TRẦN QUỐC VƯỢNG
21
hình dáng người. “Người-chim” và “Người-hươu” đều là biểu
tượng người ở cạn, trên cao.
Có thể “đọc” rõ hơn về thế lưỡng phân này ở hình tượng
“CHIM MỔ CÁ”, rất nhiều trên trống đồng và các đồ đồng Đông
Sơn khác. Hơn là một hình tượng hiện thực, đấy còn là biểu
tượng của thế đối lập NÚI-NƯỚC, NẮNG HẠN-MƯA DÔNG.
Trên mặt trống, nhiều người đã chú trọng từ lâu đến một loại
mô típ hình học, được mệnh danh là “vòng tròn tiếp tuyến”.
Nhưng những dải vòng tròn tiếp tuyến này cũng có hai loại: một
loại “xuôi” và một loại “ngược”, nghĩa là cũng phản ánh một ý
niệm lưỡng phân.
Những mô típ trang trí “hình răng cưa” (14) cũng được biểu
hiện dưới dạng “xuôi” “ngược” lưỡng phân như vậy.
Khó “đọc” nhất — Nguyễn Từ Chi là người đọc ra đầu tiên
-
nhưng khi đọc được rồi thì người ta thấy cũng là hình tượng
rõ nhất phản ánh ý niệm lưỡng phân và lưỡng hợp: đó là hình
tượng “CHIM LAO ĐẦU VÀO MIỆNG RẮN”. Hình thuyền
trên tang trống Ngọc Lũ là hình tượng con RẮN NƯỚC nằm
ngửa, mồm há hốc. Phía trên là hình tượng 3 con chim cụp cánh
lao đầu vào miệng rắn.
'.
Thế lưỡng phân CHIM - RẮN NƯỚC chi phối hầu hết kho
tàng thần thoại khởi nguyên của các nhóm dân tộc ở vùng Đông
Nam Á. Mô típ ấy thấy rất nhiều trong các huyền thoại Việt Nam
thời dựng nước. Xin nêu hai trong nhiều ví dụ bất kỳ: “Ông Hộ
dắt dao găm lao đầu vào bụng thuồng luồng để giết thuồng luồng
ở vùng sông Đà; thuồng luồng nuốt bà mẹ (ở Cam-pu-chia có vô
vàn truyền thuyết về thuồng luồng, cá sấu nuốt người con gái
đẹp), “Ông khổng lồ” —- hình tượng NÚI — là con của Mẹ đã
-
giết thuồng luồng (dải) để trả thù cho mẹ (truyền thuyết vùng Hồ
Tây và sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội).
CHIM (hay GÀ TRẮNG) đều là biểu tượng MẶT TRỜI -
NÚI. RẮN (hay thuồng luồng, cá sấu...) đều là biểu tượng ĐÊM
TỐI - NƯỚC. Đấy cũng là ý niệm về thế lưỡng phân: ÁNH
SÁNG - BÓNG TỐI, NGÀY - ĐÊM... mà người thời cổ nhận
thức được.
TRONG CÕI
22
Vậy có thể thấy rõ: một trong những ý niệm nền tảng của nền
văn minh Đông Sơn - một nền văn minh nông nghiệp phát triển
khá cao, mà trống đồng là hiện vật tiêu biểu - là ý niệm về thế
lưỡng phân và lưỡng hợp.
Sơ đồ sau đây tóm tắt những ý kiến đã nêu ở phần trên: (xem
trang 24 và 25).
Đó là một cấu trúc thần thoại. Nhưng đó có phải là một cấu
trúc xã hội không? Nói cách khác, xã hội Việt cổ có được cấu trúc
trên nền tảng “chia HAI hòa MỘT” không? Rất khó đoán nhận
trong tình hình tài liệu và hiểu biết hiện nay. Song có thể coi đó
là một giả thuyết công tác để tiếp tục nghiên cứu thêm. Những tài
liệu đã công bố về người Bách Việt, Âu Việt, Lạc Việt, Lý, Lão
(15), về những nhóm dân tộc ở Đông Nam Á có thể khiến ta suy
đoán rằng xã hội Việt cổ và xã hội cổ truyền của các nhóm dân
tộc ở Đông Nam Á được cấu trúc trên cơ sở lưỡng hợp và lưỡng
phân. Có thể vạch ra sơ đồ tổ chức xã hội của các nhóm dân tộc
đó như trên đây.
Vậy cũng có thể đề ra giả thuyết :thể lưỡng hợp (và lưỡng
phân) Âu-Lạc của người Việt cổ đã được cấu trúc từ trước đời An
Dương Vương Thục Phán, từ trước khi thành lập nước Âu Lạc,
nghĩa là trước thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Âu là dòng MẸ, Lạc
là dòng Bố của người Việt cổ cũng như dòng CAU là dòng MẸ,
dòng DỪA là dòng Bố của người Chàm cổ. Điều đó có thể phản
ánh một cấu trúc lưỡng hợp về hôn nhân và có thể truy tìm cấu
trúc ấy cho đến tận tổ chức cơ sở của xã hội (bản, làng...)
Tiếp tục suy nghĩ về trống đồng. Với ngôi sao-mặt trời ở
trung tâm mặt trống, mọi cảnh vật, người, chim, hươu... đều xoay
quanh mặt trời ngược chiều kim đồng hồ... ta dễ dàng đoán nhận
chủ nhân trống đồng là những người có tín ngưỡng thờ thần mặt
trời. Đó là một tín ngưỡng phổ biến trong những cư dân nông
nghiệp, trong những nền văn minh nông nghiệp. Cô-la-ni (16) và
Qua-rít Uơ-lớt (17) đã ghi nhận từ lâu tín ngưỡng thờ thần mặt
TRẦN QUỐC VƯỢNG
23
trời của chủ nhân trống đồng, chủ nhân văn hóa Đông Sơn. Di
tích của tục thờ thần mặt trời còn tồn tại khá phổ biến trong
những nhóm dân tộc ở vùng Đông Dương và Đông Nam Á này.
Không phải chỉ ở những mô típ trang trí hình mặt trời và hình
“chìm mặt trời” (18) trong những đồ trang sức của người miền
núi. Mà còn sống động ở trong những lễ nghi nông nghiệp. Chỉ
lấy một ví dụ ở người Kinh: tục vật cầu (vật cù) ngày xuân. Những
trò chơi có vai trò của quả bóng (cầu) như vật cầu, đá cầu, đánh
phết... đều có liên quan đến tục thờ mặt trời. Quả cầu thường
được sơn đỏ (biểu tượng mặt trời), người chơi chia làm hai phe
và bao giờ cũng là phe đông và phe đoài (tây). Quả cầu sơn đỏ
xoay chuyển từ đông sang tây là tượng sơn đỏ xoay chuyển từ
đông sang tây là của mặt trời trên bầu trời.
Với ngôi sao-mặt trời ở giữa mặt trống ta chú ý thêm rằng
hình tượng trên trống, trên thạp... ưu tiên thuộc về chim hươu và
những "người chim”, “người hươu”. Tất cả đều là biểu tượng của
MẶT TRỜI - LÚA - NẮNG HẠN - NÚI - VÙNG CAO. Tổng
thể thần thoại-xã hội nói về thời dựng nước cũng giành ưu tiên:
Cho dòng MẸ ÂU: Hùng Vương thuộc dòng mẹ Âu.
Cho thế lực NÚI: Sơn Tinh thắng Thủy Tinh.
Điều đó có ý nghĩa xã hội gì?
Phải chăng chủ nhân trống đồng loại 1 thuộc về tập đoàn
NÚI, nhóm dân tộc lấy biểu trưng là CHIM - HƯƠU - LỬA -
NẮNG HẠN thuộc triều đại MẶT TRỜI và vẫn theo dòng MẸ?
Điêu quan trọng hơn là với sự xuất hiện trống đồng phải chăng xã
hội Việt cổ đã nhảy vọt từ “tiền sử” sang “thự sử” hay “lịch sử”, từ
chế độ thị tộc nguyên thủy sang chế độ thủ lĩnh. (19)
Sự thịnh đạt của việc thờ THẦN MẶT TRỜI trên phạm
vi toàn thế giới
gắn liền với việc thần thánh hóa chế độ tù
-
trưởng, thủ lĩnh, gắn liền với sự xuất hiện những ông vua đầu
tiên. Và những vua đầu tiên thì đều là những “vua-phù thủy” (20)
như G. Phrê-đơ đã chứng minh.
Xin lưu ý đến một câu của Đại Việt sử lược (quyển 1): “Đời
Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên) ở bộ Gia
Ninh có một dị nhân dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự
xưng là Hùng Vương.”
TRONG CÕI
24
THỂ LƯỠNG HỢP
và
LƯỠNG PHÂN
SÔNG
NÚI
NƯỚC
LỬA
CHIM, HƯƠU, GÀ
RẮN, RỒNG, RÙA
(xăm mình)
(áo lông chim)
THỦY TINH
SƠN TINH
LẠC
ÂU
VĂN HÓA ĐÔNG SƠN
VĂN MINH NÔNG NGHIỆP
VÙNG THẤP
VÙNG CAO
(nương rẫy)
().
LUYỆN KIM ĐỒNG SẮT
TRỐNG ĐỒNG
NGHI LỄ NÔNG NGHIỆP
(cầu mưa, chống lụt, đua thuyền,
kéo co, thả diều...)
THỤC
HÙNG
(Cổ Loa)
(Núi Nghĩa)
1
THẦN MẶT TRỜI
THỦ LĨNH
TRẦN QUỐC VƯỢNG
25
THỂ LƯỠNG HỢP
và LƯỠNG PHÂN
VIỆT CỔ
ÂU
LẠC
LÝ
LÃO
THÁI
THỦY BÁI DI (Pa-dí)
HẠN BÁI DI (Pa-dí)
THOÁN
TÂY THOÁN BẠCH MAN ĐÔNG THOÁN Ô MAN
(Tộc Bạch)
(Tộc Di)
(Sát hãn chương)
(Cáp lại chương)
(Nguyên Sử)
(Nguyên Sử)
(Caqanjang)
(Qarajang)
LÔ LÔ
HẮC LÔ LÔ
BẠCH LỖ LỖ
(Lô Lô đất)
(Lô Lô nước)
GIA RAI
HỎA XÁ
THỦY XÁ
(Mtao Pui)
(Mao Ea)
CHÀM
DÒNG CAU (Mẹ)
DÒNG DỪA (B6)
KHƠ-ME CỔ
MẶT TRỜI
(Triều đại)
MẶT TRĂNG
(Triều đại)
TRONG CÕI
26
Cho nên có thể cho rằng trống đồng là biểu tượng của một
quyền uy xã hội. Những ghi chép thời sau nói rõ điểm đó. Chẳng
hạn Tùy thư-Địa lý chỉ (quyển 31) chép: “Các người Lão đều đúc
đồng làm trống lớn... người có trống được gọi là đô lão, được
quần chúng suy phục.” Mỗi trống đồng trị giá hàng trăm, thậm
chí hàng nghìn trâu bò; ai có hai, ba cái trống đồng thì đã có thể
“tiếm hiệu xưng vương” (Minh sử, quyển 212). Theo Tấn thư
Thực hóa chí, quyền uy chính trị, xã hội và sức mạnh kinh tế của
các “cừ súy” (thủ lĩnh dân tộc) ở Giao Châu được biểu hiện bằng
số lượng trống đồng, sản vật quý (ngọc trai, sừng tê) và đầy tớ hầu
hạ. Cũng theo Quảng Châu ký của Bùi Uyên thì khi tù trưởng
gióng trống đồng là hiệu lệnh tập trung quần chúng, dân kéo đến
như mây tụ, sẵn sàng đợi lệnh ra quân. Ở phương Nam, trống
đồng là vật để thưởng cho người có chiến công lớn. (Tân Đường
thư - quyển 222 - Nam Man truyện).
Cũng bởi trống đồng là biểu tượng của quyền uy nên bọn
phong kiến phương Bắc khi chinh phục phương Nam đều tịch
thu trống đồng. Mã Viện thời Đông Hán, Gia Cát Lượng thời
Tam Quốc, Lan Khâm đời Lục Triều... đều làm như thế cả. Mã
Viện, song song với việc tiêu diệt chế độ Lạc tướng, đầy hơn 300
thủ lĩnh người Việt sang Linh Lăng (Hồ Nam) đã phá hủy trống
đồng Lạc Việt để đúc ngựa đồng. Phải chăng đấy là biểu trưng
của việc phá cấu trúc xã hội cũ của người Việt dựa trên chế độ
thủ lĩnh thế tập? Việc thủ lĩnh người Việt thời chống Bắc thuộc
phá tiền đồng của nhà Tấn để đúc lại trống đồng phải chăng là
biểu tượng của sự đối kháng giữa uy quyền thủ lĩnh Việt với
quyền ủy của “Thiên triều”? Trên tiến trình lịch sử, nếu cột đồng
trở thành biểu tượng của chủ nghĩa bành trướng, của kẻ chinh
phục thì trống đồng đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu
n...






https://drive.google.com/file/d/1QHAY6Fmk0EvI0WmpJ7nAD35vhjSPMtf8/view